Mùa dã quỳ

Thứ Tư, 18/01/2006 10:04

Truyện ngắn của Bùi Anh Tấn Anh gặp cô một cách tình cờ ở thành phố sương mù. Bức tranh anh vẽ cô giống hệt một người con gái đã đi xa. Cô là ai?

Cao nguyên bồng bềnh trong sương sớm. Cả thành phố chìm trong làn sương mù nhè nhẹ, lẩn khuất từng góc phố, trườn qua những cụm hoa và lượn lờ trên mặt hồ Xuân Hương.

Năm nay rét đậm. Đà Lạt lạnh xuống đến mười độ.

Sáng, bác Khoa đẩy cửa bước ra ngoài cũng phải xuýt xoa vì lạnh. Kéo chiếc áo len lên che cổ, bác than: Sương nhiều vầy, hư hoa hết!".

Rồi, bác rón rén bước dò dẫm ra vườn hoa sau nhà. Đêm qua, chẳng hiểu chó hay mèo chạy ngang làm tắt mấy bóng đèn chiếu nóng trong vườn khiến bác phải dậy, thân già lụi cụi.

Đã thế thằng cháu lớn còn càu nhàu: "Thiệt không ai như nội hết. Tắt mấy cái bóng, mai dậy sửa. Làm gì nửa khuya cho cực thân!".

Bác Khoa hiểu vậy, nhưng những vết nhức ở đầu gối cho bác biết nay mai trời mù lắm. Sương nhiều thế này rất dễ hư hoa ngoài vườn. Số hoa kiểng này đã có khách từ Sài Gòn lên đặt cọc từ giữa năm để chuẩn bị cho Tết.

Là người trồng hoa có tiếng ở Đà Lạt, bác không muốn thất hứa với khách. Cả tuần nay bác cứ loay hoay một mình ngoài vườn hoa.

Hữu chúi sâu đầu vào trong gối, chỉ he hé mỗi cái mũi thò ra ngoài để thở, mặc cho chiếc chuông đồng hồ réo inh ỏi nhiều lần. Trời lạnh thế này, được nằm lún sâu trong đống chăn nệm ngủ là một niềm hạnh phúc không tả nổi.

Thế nhưng, đến khi bác Khoa vào buồng lay khẽ, Hữu đành tiếc nuối chui ra khỏi chăn. Anh rên rỉ: “Trời ơi, sao mà lạnh quá!".

Nhìn anh lò cò nhảy cóc trên nền nhà để xỏ chân vào quần, bác Khoa phì cười.

Cách đây khá lâu, thấy thằng con cưng cứ bần thần ra vào, mặt mày lúc nào cũng đăm đăm như mất hồn, má anh liền hỏi chuyện.

Hữu kể, nhóm họa sĩ trẻ do anh làm trưởng nhóm được Hội Mỹ thuật đề cử tham gia cuộc thi triển lãm tranh Thiên nhiên - Con người - Cuộc sống do Mỹ tổ chức.

Tuy nhiên, ban tổ chức yêu cầu mỗi họa sĩ tham gia phải gửi trước cho họ mấy phác thảo. Nếu được chọn thì sẽ mời họa sĩ đó.

Hữu bảo: “Con đang bí đề tài quá”. Má anh gợi ý: “Sao không về Đà Lạt đi con?”.

“Ôi, lại biển, lại rừng... mấy đề tài đó xưa rồi. Bây giờ người ta vẽ tranh trừu tượng, lập thể, sắp đặt... Mấy ai còn vẽ xưa vậy?".

Má lắc đầu: "Vẽ gì đạt được cái thần mới quan trọng. Huống hồ cuộc thi này họ nhằm đến thiên nhiên". Nghe má nói có lý, Hữu gật gù.

Má nhìn anh cười âu yếm. Sau đó, má giới thiệu Hữu lên ở nhờ nhà bác Khoa, một người bạn của gia đình, di cư vào Nam năm 1954.

Hữu gặp may. Đà Lạt đang vào mùa dã quỳ nở. Chao ôi, những vạt dã quỳ vàng rực dưới nắng, chạy dài theo ven con lộ dẫn vào Đà Lạt làm du khách cứ trầm trồ, ngất ngây khi nhìn thấy.

Ngay từ những giây phút đầu, Hữu đã bị màu vàng rực ấy chinh phục. Anh phác nhanh trong đầu những nét vẽ đầu tiên. Mấy hôm sau, mượn chiếc xe cũ của chị con gái lớn nhà bác Khoa, máy ảnh đeo trên cổ, xấp giấy trên tay, Hữu một mình lang thang khắp Đà Lạt,

Gần như xó xỉnh nào anh cũng mò đến. Tập phác thảo cứ dày dần.

Cũng mất vài ngày vẽ thử, cả mấy anh chị con bác Khoa, ai xem cũng xuýt xoa thán phực. Chỉ duy nhất bác Khoa không khen. Ông chỉ cười cười mỗi khi Hữu hỏi.

Cho đến một hôm, bác bảo: "Bác chỉ là người trồng hoa chứ không phải là họa sĩ như cháu nên biết gì mà nhận xét. Chỉ có điều dã quỳ trong tranh của cháu hình như thiếu điều gì ấy. Bác có cảm giác như thế mà không biết nói thế nào cho cháu hiểu".

Hữu thừ người. Điều bác Khoa nói không sai. Chỉ đến khi căng toan để đặt những nét cọ sơn dầu đầu tiên, Hữu mới nhận ra rằng, dã quỳ của anh rực rỡ nhưng vô hồn quá.

Đấy chính là điều bác Khoa thấy thiếu nhưng không giải thích được.

Mấy hôm liền, thấy Hữu cứ lang thang như kẻ mất hồn, ăn uống thất thường, lại hay đi một mình trong rừng thông vắng, chị con đầu của bác Khoa sợ quá.

Chị thì thào kể: “Con lên dọn phòng chú Hữu. Trời ơi, mấy tấm tranh đẹp thế mà chú ấy xé mất hơn nữa. Tấm tranh sơn dầu hôm trước chú đem khoe cũng bị vứt bỏ rồi ba ơi!”.

Chị tiếc rẻ chép miệng: "Uổng quá, giá đem bán cho XQ để họ làm tranh thêu cũng được khối tiền”.

Bác Khoa cười hiền hậu: "Kệ chú ấy. Nghệ sĩ họ vậy đó, con lo làm chi cho mệt''.

Hữu lang thang trên đồi thông. Nhìn xuống con đường mòn hình vòng cung uốn khúc bò dưới thung lũng xanh ngút, vô tình Hữu thấy mấy người dân tộc khuất sau khúc quanh. Lưng đeo gùi, họ đang lầm lũi đi lên.

Mặt mày người nào người nấy đều tím tái. Có năm người, bốn nữ, một nam, khó đoán tuổi tác. Họ đi thành một hàng.

Người đàn bà đi cuối, đeo chiếc gùi, bên trong đặt một thằng bé. Cái đầu lơ thơ tóc của nó gật gà, gật gù theo nhịp chân của mẹ.

Tự nhiên Hữu thấy rờn rợn, không hiểu nó còn sống hay đã chết trong chiếc gùi kìa. Như có một sự quyến rũ vô hình, Hữu lầìn từng bước đi xuống thung lũng.

Hai bên đường đầy những thứ hoa cỏ lạ mà anh không biết tên. Đường đất đỏ trơn trượt và cứ sâu dần xuống, nhưng Hữu không thấy mệt.

Trời lạnh và anh cảm thấy thoải mái, cứ thế Hữu lần xuống. Giữa thung lũng là một vùng đất thoai thoải, mở rộng ra lưng đồi. Đó đây, mấy căn nhà nhỏ nằm nấp sau rẫy cà phê.

Hữu nghĩ thầm, thì ra nơi này có người ở chứ không hoang vắng như anh tưởng. Từ đây xuống đến cuối thung lũng cũng chỉ còn một đoạn ngắn. Hít một hơi thật dài. Hữu tiếp tục lần xuống.

Vở òa trước mắt Hữu là một vạt dã quỳ rực rỡ đến độ anh có cảm giác như bị lóa mắt. Trong thung lũng nhỏ dưới chân đồi thông vi vu gió, dã quỳ cứ thế mọc miên man, kéo dài đến tận chân trời.

Hữu như bị thôi miên. Anh bước đi một cách vô định. Khung cảnh yên tĩnh và thanh bình đến lạ thường mang đến cho anh cảm giác lâng lâng, nhẹ nhõm.

Hữu nghĩ mình hoa mắt, nhưng không. Một dòng suối nhỏ róc rách uốn chảy. Trên tảng đá xa xa, có một cô gái đang ngồi tư lự. Sau lưng cô là những bụi mimosa rung rinh ánh bạc. Xa hơn nữa là một biệt thự nhỏ với giàn hoa leo um tùm.

Thần tiên chăng? Một cảm giác choáng ngợp dâng lên trong lòng Hữu. Anh dựa vào gốc thông, rút bút chì ra, say sưa phác lại hình ảnh ấy. Anh sợ khoảnh khắc tuyệt vời này sẽ qua nhanh.

“A... a... á...”, bất chợt cô gái quay sang và phát hiện gã đàn ông đang loay hoay, cắm cúi làm gì đó trong rừng thông. Cô hốt hoảng la lên rồi vùng bỏ chạy.

Hữu cũng giật mình, anh hấp tấp chạy theo, gọi to: “Cô gì ơi. Đừng sợ, tôi không làm gì đâu!”.

Đuổi đến căn biệt thự thì bóng cô gái đã khuất. Hữu tần ngần đứng trước cửa mãi với hy vọng sẽ có người ra. Anh nghĩ nếu mình đường đột đẩy cửa bước vào sẽ làm cô gái thêm sợ nên đành đứng chờ.

Khi Hữu bắt đầu cho rằng chủ nhân ngôi nhà không muốn tiếp anh và sắp quay lưng thì cô gái mở cửa.

Họ quen nhau.

Cô gái có làn da trắng muốt như ngà đến đỗi Hữu cứ nghĩ rằng, cô phải sinh sống ở nước ngoài từ nhỏ chứ không phải người Đà Lạt.

Gương mặt cô nhỏ nhắn, xinh xinh, làn môi đỏ tươi quyến rũ. Chỉ có điều, mắt cô luôn ướt. Nhiều lần, Hữu nghĩ rằng hình như cô đang khóc. Đôi mắt đẹp nhưng buồn quá.

“Hãy cứ gọi em là Cao Nguyên đi”.

“Uh... thì Cao Nguyên, cái tên nghe hay hay, ngồ ngộ”.

Hữu chẳng hiểu sao Cao Nguyên lại một mình sống trong căn biệt thự vắng lặng nằm sâu dưới thung lũng hoang vu đầy dã quỳ rực rỡ này.

Nghe anh hỏi, Cao Nguyên mỉm cười vẻ thần bí: “Đây là nhà của em mà, đâu có gì lạ”.

“Anh đúng là du khách. Người Đà Lạt của em nghĩ khác”.

“Nghĩ khác?”.

“Dã quỳ nở quả có đẹp thật, nhưng người thành phố này gọi mùa dã quỳ nở là mùa cúm”.

“Mùa cúm?”.

“Vâng, vào mùa dã quỳ nở, khoảng tháng 11 hằng năm, có nhiều người bị cúm nên người ta gọi là mùa cúm. Với lại dã quỳ nhìn xa thì dẹp nhưng lại gần thì... hôi lắm”.

Ừ, thì cũng chỉ người Đà Lạt mới biết vậy, nghĩ vậy, chứ với du khách như Hữu thì dã quỳ đẹp lắm.

Nghe Hữu đề nghị cô ngồi làm người mẫu cho anh vẽ. Cao Nguyên có vẻ bối rối, e ngại. Ngẫm nghĩ một lúc, cô gật đầu ưng thuận.

Sáng hôm sau, chờ mặt trời qua đỉnh đồi thông trước nhà, xua bớt màn sương. Hữu hăm hở vác giá vẽ đến nhà Cao Nguyên.

Lần này, đi trên con đường mòn quanh co xuống dốc, anh thấy phấn khích lạ thường.

Như đã hẹn, cô gái ngồi chờ anh bên dòng suối trước nhà. Hôm nay, Cao Nguyên ăn mặc thật lạ, một màu trắng mảnh mai, nuột nà. Nhìn nàng mong manh như sắp tan vào trong làn sương sớm. Trên ngực nàng đeo một chuỗi hạt gỗ.

Thấy Hữu đứng ngây người, Cao Nguyên ửng hồng đôi má, vẻ thẹn thùng: “Làm gì nhìn em dữ vậy?”.

Hữu thở hắt ra: "Em đẹp và huyền bí quá”.

Ánh mắt nàng nhìn anh đầy vẻ lạ lùng, nhưng không nói gì.

Một tuần liền, Cao Nguyên ngồi làm mẫu cho Hữu vẽ. Cũng lạ, chẳng lần nào Cao Nguyên chịu mời anh vào nhà chơi. Cô chỉ mang nước và thức ăn cho anh mà thôi.

Say sưa vẽ nên Hữu chẳng nhận ra sự lạ lùng ấy. Tất cả những đường nét sơ khởi, màu sắc, bố cục đã xong. Hữu cần mấy ngày ở nhà để hoàn chỉnh bức vẽ.

Anh hẹn với Cao Nguyên sẽ mang tranh đến cho cô xem và góp ý sau khi hoàn tất. Và nếu ưng ý, anh sẽ vẽ riêng một phiên bản khác tặng cô.

Mấy ngày tiếp đó, Hữu say sưa vẽ đến quên ăn, quên ngủ.

Giờ thì gia đình bác Khoa đã quen với tính khí nghệ sĩ lạ lùng của anh nên chẳng quan tâm nữa. Họ để mặc anh làm việc của mình.

Hữu vẽ và vẽ như điên. Anh có cảm giác, giờ đây Cao Nguyên đã nhập vào anh như là một.

Mắt môi, nụ cười của nàng đi sâu vào tim anh với những cảm giác lạ lùng, say mê. Điều đó càng làm cho anh thêm hưng phấn khi quét đậm những mảng màu trên vải.

Một sự hưng phấn nghệ thuật cao độ hòa với sự rung cảm của trái tim nghệ sĩ trong anh. Thêm vào đó còn một điều đơn giản khác, đấy là sự rung cảm của trái tim một gã đàn ông chưa vợ.

Tất cả trộn lẫn thành một bức tranh với những vạt dã quỳ vàng rực dưới trời Đà Lạt. Bay trên đó là một cô gái đang chắp tay nguyện cầu với sợi dây gỗ nhiều màu trên cổ.

Hữu đặt tên tranh là Cô gái và hoa dã quỳ.

Khi bức tranh hoàn thành, gia đình bác Khoa là những khán giả đầu tiên.

Cô chị cả lắc đầu nhăn nhó, không hài lòng. Chị tiếc mấy bức tranh mà Hữu đã bỏ đi. Theo chị, chúng bán đáng giá hơn.

Chỉ có bác Khoa là im lặng, gật gù khá lâu. Cuối cùng, bác siết chặt tay anh, một cái siết tay đầy ý nghĩa làm Hữu sướng rơn.

Thật trùng hợp, sáng hôm đó thầy của Hữu có việc lên Đà Lạt, ghé qua thăm anh. Thầy cho biết, lát nữa ông về thành phố và bay đi Mỹ luôn.

Xem tranh anh vẽ, thầy hết lời khen ngợi và cho rằng anh đã có bước tiến bộ vượt bậc. Thầy đề nghị, tiện đây để ông mang bức tranh này sang Mỹ. Ông tin rằng với bức tranh này, nhất định Hữu sẽ được mời tham dự triển lãm.

Hữu bất ngờ và lúng túng bởi lời hứa mang tranh đến cho Cao Nguyên xem.

Thầy bảo, nghe đâu cuộc triển lãm này chuyển ngày sớm hơn, nếu gửi bằng đường bưu điện thì muộn mất. Hữu phân vân rồi cũng đồng ý. Anh lấy máy ảnh chụp lại mấy tấm làm kỷ niệm, dự định sẽ mang ảnh đến cho Cao Nguyên xem. Sau đó, anh sẽ dựa trên những tấm ảnh để vẽ lại một bức tranh mới tặng nàng.

Hôm sau, Hữu đến nhà Cao Nguyên. Anh mạnh dạn nhấn chuông và hy vọng nàng sẽ ra mở cửa. Nhưng không, một gương mặt già nua ló ra nhìn anh:

“Cậu hỏi ai?”.

“Cho cháu gặp Cao Nguyên”.

“Cao Nguyên, nhà này đâu có ai tên Cao Nguyên đâu?”.

Hữu gãi đầu, đến bây giờ anh mới nhớ rằng cô gái bảo anh gọi cô là Cao Nguyên chứ chưa bao giờ nói với anh tên của cô cả. Anh chủ quan, nghĩ rằng đằng nào cũng gặp cô thì kêu gì chẳng được, nên bây giờ mới khó ăn khó nói với bà giúp việc này.

Nghe Hữu lúng túng diễn tả về cô gái mà anh đã gặp, bà giúp việc nhíu mày nhìn anh, vẻ kinh ngạc. Anh càng nói, vẻ mặt của bà càng bối rối hơn. Cuối cùng, bà mở rộng cánh cửa mời anh vào nhà.

Để Hữu ngồi ở phòng khách, bà giúp việc bỏ vào nhà trong pha nước. “Phòng khách cổ của một gia đình quyền quý, chỉ có điều lạnh lẽo quá”, Hữu nhìn quanh thầm nhận xét.

Anh lấy sẵn xấp ảnh bày lên bàn. Anh định chờ Cao Nguyên ra để ngỏ lời xin lỗi vì không đem tranh đến được, sau đó xin cô cho anh vẽ lại một bức khác tặng cô.

Trái tim Hữu đập rộn ràng. Bước vào căn nhà này, anh nhận ra ngay rằng đã lâu nó vắng bàn tay đàn ông chăm sóc. Nghĩa là Cao Nguyên chưa có ai và anh thấy lóe lên một tia hy vọng.

Từng trải qua dăm ba mối tình, nhưng đến nay Hữu vẫn cô đơn đúng nghĩa. Anh hy vọng sẽ nói được với Cao Nguyên điều gì đó. Ít nhất, anh sẽ còn cả tuần ngồi vẽ với nàng nữa và biết đâu...

Hữu thoáng mỉm cười nhớ đến tiếng má ca cẩm trong điện thoại tối qua, nhắc anh về đi, đi lâu quá. Má chờ xem, biết đâu mai mốt con dẫn cả con dâu má về cho má coi.

“Cậu uống nước... Á...!”. Xoảng. Khay nước rời khỏi tay bà giúp việc rơi trên nền nhà. Mặt tái mét, bà trợn tròn mắt khi nhìn mấy tấm ảnh của Cao Nguyên do Hữu chụp để trên bàn.

“Ai... ai... đây?”.

Bà líu lưỡi, tay run run chỉ mấy tấm ảnh. Thái độ kỳ lạ của bà làm cho Hữu bối rối.

“Dạ, đây là... đây là...”.

Tự nhiên, trong đầu Hữu thoáng có ý nghĩ: “Hay là cô gái này không phải người ở đây và cô ta chỉ mạo nhận thôi”.

Không, anh lắc đầu, rõ ràng cả tuần qua, ngày nào anh chẳng tiễn Cao Nguyên về tận nhà. Sau khi cô vào nhà khép cửa, anh mới về. Chưa kể, buổi trưa cô còn lấy võng trong nhà ra cho anh nghỉ, rồi còn bánh nước nữa, mạo nhận sao được.

Run rẩy cầm một tấm ảnh đưa sát mặt nhìn, mắt nhòa lệ, bà giúp việc lẩm bẩm: “Cô chủ ơi, cô chủ ơi” và loạng choạng đi vào buồng trong. Hữu bước theo và đến lượt anh chết cứng người.

Nhìn thẳng vào anh với ánh mắt buồn như rơi lệ, vẫn chiếc áo trắng muốt ấy và chuỗi hạt bằng gỗ nhiều màu trên ngực, tấm ảnh của Cao Nguyên đang ở trên bàn thờ với khói hương nghi ngút.

“Không...”. Hữu thét lên kinh hoàng và bước thụt lùi, lao ra khỏi căn nhà, chạy ngã sấp ngửa trên đồi thông.

Anh đã gặp ma sao? Anh đã nói chuyện với ma và anh đã vẽ tranh ma, yêu ma sao?

Rừng thông xào xạc, tiếng lá thông vỡ vụn dưới chân Hữu nghe như tiếng chân người đuổi theo.

Tối hôm ấy Hữu sốt. Thỉnh thoảng, anh ngồi bật dậy thảng thốt nhìn quanh. Cả nhà bác Khoa lo lắng thuốc men và thay nhau thức canh chừng anh.

Sáng hôm sau, dù rất mệt, Hữu vẫn khoác túi đòi về thành phố ngay, ai cản cũng chẳng được. Bác Khoa vội gọi điện thoại về thành phố báo cho ba má Hữu hay với giọng đầy lo lắng.

Chiếc xe Isuzu 12 chỗ chầm chậm lăn bánh rời khỏi đèo Prenn. Những vạt dã quỳ vàng dưới nắng phất phơ như đang tiễn anh lên đường. Hữu chồm qua cửa kính, dụi mắt. Hình như Cao Nguyên đang đứng đâu đó chào anh với ánh mắt buồn rười rượi như sắp khóc.

“Cao Nguyên, thật ra em là người hay là ma?”. Hữu lẩm bẩm. “Cho anh xin lỗi em vì đi mà không lời chào giã biệt”.

Mấy tuần sau, mọi chuyện dần nguôi ngoai trong lòng Hữu. Anh giấu kín câu chuyện ma quái về việc mình vẽ “tranh ma” trên Đà Lạt.

Mọi sự tưởng chìm vào quên lãng thì Hữu nhận được tin bức tranh sơn dầu Cô gái và hoa dã quỳ của anh đã được phía Mỹ chấp thuận đưa vào cuộc triển lãm. Họ mời anh sang bên ấy dự lễ khai mạc và tham dự một trại vẽ tranh khác. Hữu hối hả làm thủ tục chuẩn bị lên đường.

“Hữu ơi, con có khách nè”.

Tiếng má kêu dưới nhà, còn chị Ba chạy như bay lên lầu. Nhìn thân hình ục ich, lắc lư của chị leo lên mấy tầng lầu mà thấy thương.

“Nè nhóc, ai vậy?”.

“Ai là ai?”. Hữu ngơ ngác.

Chị Ba nhéo tai thằng em trai cưng: “Giấu hả?”.

Hữu la lên: “Trời ơi, buông em ra, người ta sắp ba mươi tuổi rồi đó bà”. Chị Ba cười hăng hắc.

Một lần nữa Hữu bị sốc. Cao Nguyên đứng trong phòng khách, nhìn anh cười lỏn lẻn.

“Xin lỗi anh, em đùa anh đó. Nghe bà giúp việc thuật lại chuyện hôm ấy, em ân hận quá nhưng không biết tìm anh ở đâu để thanh minh. May làm sao, hôm nay tình cờ đọc báo, biết tin anh được mời đi Mỹ với bức tranh Cô gái và hoa dã quỳ, em mới tìm được anh”.

“Cao Nguyên là tên của chị gái em. Em và chị là chị em song sinh. Chị em từ nhỏ vốn ốm yếu vì bị bệnh tim, ba má nuôi rất cực. Đến năm 20 tuổi, dù gia đình cố chạy chữa, chị vẫn không qua khỏi và vừa mất cách đây một năm”.

Sau khi chị mất, ba má buồn rầu nên bỏ hoang căn biệt thự đó và chuyển về Sài Gòn sinh sống, thỉnh thoảng mới lên thăm. Em cũng vậy”.

“Hôm đó, em về thăm nhà, đang ngồi bên suối ngắm cảnh thì bị anh làm giật mình. Nghe anh năn nỉ xin em ngồi mẫu, em nảy ý định chọc anh chơi nên hôm sau mặc nguyên bộ đồ của chị gái, đeo sợi dây của chị cho anh vẽ”.

“Mấy ngày sau, em định nói thật nhưng thấy anh say sưa quá nên thôi. Với lại, anh vẽ chị em giống quá. Nhiều lúc nhìn tranh, em cứ ngỡ là chị Cao Nguyên sống lại. Em định hôm nào anh vẽ xong sẽ mời anh đến nhà nói rõ mọi chuyện và xin anh bức tranh ấy”.

“Hôm hẹn, em chờ hoài không thấy anh tới. Thế rồi má em kêu về nhà có chuyện gấp. Em đi mà quên dặn lại bác giúp việc chuyện của anh. Mấy hôm sau quay lại nghe bác ấy nói anh có đến...".

Nàng cúi đầu e lệ.

“Má ơi, chị Ba ơi!”, Hữu kêu rầm lên. “Đem nước cho con mời khách với”.

“Kìa, mời em... mời em ngồi...”.

Tiếp thị & Gia đình
[Quay lại]