Cành mai sẻ

Thứ Tư, 25/01/2006 11:19

Đã qua giao thừa được nửa tiếng. Chỉ còn chưa đầy hai mươi phút nữa là hết ca trực, Bắc định chuyển sang chơi games thì trên màn hình xuất hiện dòng chữ:“Gửi Bình Dương, Phú Giáo thân thương…”.

Thật lạ, tất cả các thư trong chương trình trực tuyến “Thức giao thừa cùng bè bạn bốn phương” của tờ báo N điện tử mà anh đang đọc, đều có địa chỉ cụ thể, riêng thư này lại không. Và lời thư như năn nỉ, nhờ vả: “Tôi không biết gửi cho ai, nhưng mong quý báo cho tôi được tâm tình với đất miền Đông - nơi tôi đã chiến đấu và suốt đời thương nhớ…”. Mặc dầu chỉ là những dòng thư điện tử, nhưng Bắc như cảm nhận được trạng thái tình cảm của người viết: gấp gáp, hồi hộp, sợ lỡ chuyến tàu internet dịp giao thừa.

“ Chúng tôi những người lính của một thời chiến tranh. Quãng đời cầm súng luôn đầy ắp kỷ niệm, nhưng đất miền Đông Nam Bộ luôn nặng trĩu hồi ức. Nơi đây, chúng tôi đã được nhân dân ngày đêm chăm sóc, đùm bọc yêu thương; đã cho cơm ăn, nước uống, cho sức lực và… tình yêu để chiến đấu. Ba mươi năm rồi, đêm giao thừa nào tôi cũng nhớ đến miền Đông. Ở đó, chúng tôi đã khóc vì nhớ nhà và đã cười khi các cô gái trêu “anh Hai lớn đầu mà còn nhớ mẹ”. Hoàng ơi, Thắng ơi, còn nhớ đúng giờ này năm 1972 chúng mình đang nằm kẹt ở Phú Hưng vì bị trung đội biệt kích Mỹ chặn đường, đến khi thoát ra mới tiếc hùi hụi vì đã bỏ quên cành mai sẻ không… Giờ này, các cậu đang ở đâu. Có nhớ Bình Dương - nơi có cây cầu Phước Bình tụi mình đánh hoài không được, cuối cùng đặc công nước “hớt” tay trên không; có nhớ mảnh đất với những người con gái xinh đẹp hiền lành - mà chúng ta đã từng thề, ngày hòa bình nếu còn sống sẽ về đây lấy vợ không…”

Thư như bị kết lửng ở giữa chừng. Có lẽ vì quy định của bản báo nên đã được biên tập, cắt ngắn. Cuối thư, không có địa chỉ người viết, chỉ có dòng Email linhbuon@ttb.com.vn. Liền sau đó, chương trình lại tiếp tục được cập nhật; song những thư từ Cali, Boston, từ Bratitslava, Berlin với mẫu số chung than thở: xứ lạ - thiếu vắng hương vị quê nhà - đất Việt ơi, quê mẹ ơi, mong sớm có ngày về thăm không còn hấp dẫn Bắc nữa. Bức thư gửi Bình Dương đã choán kín dòng suy nghĩ của anh. Đúng là thư không gửi cho ai, nhưng lời gọi da diết “Bình Dương, Phú Giáo” nghe như rất riêng tư. Còn cái cầu beton cốt thép Phước Bình gãy nhịp giữa, trắng phớ, hoang phế - một chứng tích chiến tranh duy nhất của tỉnh còn lại sau 30 năm - thì lại chính là địa điểm chỉ cách quê ngoại anh chừng hai cây số…. Mẹ anh đã chả đã có lần kể một tổ đặc công bộ đội miền Bắc đã được bà ngoại nuôi dấu trong nhà, vốn ngày đó là vùng “xôi đỗ” xen kẽ ta địch đấy ư. Vậy là người viết thư này chắc chắn đã từng chiến đấu ở quê anh… Bắc đẩy “con chỏ” chậm rãi đến từng con chữ, đọc đi, đọc lại bức thư. Cuối cùng, anh đưa về chế độ in lại.

Cầm bức thư ngắn được in trên khổ giấy A4, Bắc đọc thêm một lần nữa, rồi gấp làm tư, bỏ túi ngực, tắt máy, đóng cửa văn phòng ra về. Ở nhà, mẹ và vợ anh vẫn thức. Bắc chúc tết mẹ. Trước lúc đi ngủ, anh đưa mẹ bức thư với lời giải thích đơn giản: thấy nó là lạ, người trong thư chắc đã chiến đấu ở quê ngoại mình.

* *

*

- Trời ơi. Tần đây ư – Trang thảng thốt kêu lên thành tiếng. Bức thư, ban đầu Trang cũng chỉ đọc để biết như lời giải thích của con trai, không ngờ lại là của một người mà suốt hơn ba mươi năm qua chị khắc khoải ngóng chờ. Cái khoảng thời gian đầy ắp những trạng thái, từ yêu thương, hy vọng, khắc khoải, oán trách, tuyệt vọng, đến sẵn sàng chấp nhận mọi sự thật phũ phàng, chỉ cần một lời giải thích minh bạch. Ngần nấy giằng xé trăn trở mà nay lại kết cục đơn giản như thế này ư. “Hoàng ơi, Thắng ơi. Còn nhớ đúng giờ này năm 1972…” Trang đọc lại hàng chục lần dòng chữ này và lần nào chị cũng như nghe được tiếng gọi của Tần. Tần đây chứ ai. Và quá khứ trào về, choán ngợp trong đầu óc Trang. Tất cả hiện lên rõ mồn một, như chỉ vừa mới xảy ra ngày hôm qua.

Năm 1972, Trang vừa tròn mười tám tuổi…

Cái đêm ấy, sau hàng loạt tiếng nổ từ phía thị trấn, Tần, Hoàng và Thắng trở về. Má Tư, mẹ của Trang vừa cắt bánh tét vừa trách “đánh giặc còn dài dài; giao thừa sao không ở nhà ăn tết, vội vàng chi cho cực”… Khi còn hai người trên gác đựng đồ ở nhà kho, Trang cũng trách Tần y chang cái câu của má. Tần cười hiền lành. Anh bảo, tranh thủ đi kiếm cành mai về cho má chưng tết. Nghe vậy, Trang trách, giọng pha chút hờn dỗi:

- Mai đầy ngoài vườn, anh hai đi kiếm làm chi. Nhỡ… Giật mình vì lỡ lời, Trang bịt miệng, giụt cổ, hai mắt mở to, chớp chớp lo sợ.

- Út Trang đừng lo. Hoa mai này khác - Tần gỡ tay Trang xuống khỏi miệng. Anh nghiêng đầu, ngắm khóe môi của cô, say sưa giảng giải - Nó là mai sẻ, mọc ở rừng, bông nhỏ, cánh đơn, giống hệt hoa chi mai ở miền Bắc. Nói rồi Tần lục túi áo lấy ra bông mai.

- Đây, nó đây. Ở Hà Nội, thứ mai này rất hiếm. Ngày tết nhà nào cũng có một cành đào. Nhưng nếu có thêm được cành chi mai này thì gian nhà sẽ như có được tiếng cười của cô thôn nữ - Tần gượng nhẹ đặt bông mai sẻ màu trắng mát dịu vào lòng bàn tay đỏ hồng của Trang. Bàn tay cô nhỏ nhắn, run run, nằm gọn trong đôi tay to rộng, chai sạn của Tần. Như sợ cánh hoa bất chợt bay đi, Trang khum khum đôi tay giữ bông hoa mỏng mảnh, óng ánh sương đêm

“Hoàng ơi, Thắng ơi. Còn nhớ cái cây cầu Phước Bình…” - Trong sâu thẳm, Trang lại nghe Tần gọi. Cây cầu Phước Bình bị phá sập hôm trước thì đêm sau Tần cùng nhóm đặc công rời khỏi ấp Hưng Phú. Tần đi khuất, má Tư thì thầm: “Chắc mấy anh hai mày đánh xong cầu, hoàn thành nhiệm vụ rồi, giờ chuyển địa điểm khác”. Nhưng Trang thì biết rõ không phải như vậy. Lúc Tần gói ghém ba lô, cô đã nghe anh nói với Hoàng và Thắng, giọng ấm ức: “Vậy là cánh đặc công nước hớt tay trên cái cầu của tụi mình rồi”. Tần đây. Tần ơi, anh đang ở đâu. Trang lại kêu lên thảng thốt.

… Sóng đã thôi không chồm qua mỏm đá để hết đợt này đến đợt khác ào ạt xô bờ. Bầu trời, mặt đất đã trở lại lắng dịu, hiền hòa, nhưng sóng lừng mãi tít ngoài khơi và dòng hải lưu sâu thẳm dưới đáy bể vẫn sung sức, ầm ào… Sợ bến bờ mệt mỏi, sóng êm ả, trào qua mỏm đá, nhẹ nhàng lướt trên dải cát vàng lóng lánh. Sóng biển và bến bờ hòa nhập, lanh canh reo vui tạo nên âm thanh pha lê trong trẻo… Trang mở mắt. Nàng ngây ngất. Bàn tay của Tần êm ái, chiều chuộng, đang xoa nhẹ lên bầu vú căng tròn, mịm như bột lọc của cô. Trang nhắm mắt, mặc cho bàn tay ấy lặp đi, lặp lại điệp khúc vô tận: lấp chấp, dặt dìu theo đường tròn bầu ngực rồi vuốt dài, vuốt dài xuống tít tắp thật xa, thật xa…

Mãi sau, Trang ôm cổ Tần thủ thỉ “Ôi… Anh… Em có bầu thì má sẽ nguyền rủa anh”. Nói rồi, nàng úp mặt xuống gối khóc. Nỗi thảng thốt, lo sợ ập đến. Cô sợ cho mình, không bằng sợ cho Tần. Hai tháng nay, kể từ hôm tổ đặc công tới đây, Tần được má cô quý như con đẻ. Nhà có hai chị em, Trang là út. Má gọi Tần là thằng hai, Tần gọi cô là út Trang. Bây giờ… Ôi, Trang không hình dung được, cũng như không thể chịu đựng được nếu có lúc má cô nguyền rủa Tần.

Trang bừng tỉnh dậy. Nghe rõ tiếng tim đập lùng bùng trong tai. Giấc mơ tan biến, song cái cảm giác ngất ngây, say đắm dục tình không còn phù hợp với tuổi tác đã khiến chị lả người, nghẹt thở, đầu óc váng vất. Trang bải hoải, lần từng bước ra sân hít thở. Trời hừng đông, cái tiết xuân trong lành, se se lạnh giống mùa thu miền Bắc (ngày trước Tần đã từng nói thế) làm tan biến ảo giác, nhường chỗ cho quá khứ cắt khúc, cấp tập hiện về.

Và rồi nỗi lo sợ đó đã đến. Chỉ có điều không có sự nguyền rủa của má dành cho Tần (hoặc giả có, nhưng má không nỡ nói ra lời). Chỉ khi biết sự việc đã quá muộn, lúc thắp xong nén nhang trên bàn thờ cha, má quay ra nói với Trang, giọng bời bời đau khổ: “Nếu là ngày xưa thì mày bị lột quần cuốn cổ đấy Út à”. Rồi má đưa Trang vào thị xã ở với dì Ba… rồi Bắc ra đời; rồi những ngày hy vọng, nhớ nhung, chờ đợi khắc khoải liền kề với vô vọng, với oán giận; rồi Bắc khôn lớn, càng lớn càng giống Tần (cái tên Bắc là do bà ngoại đặt để đón điều lành cho con gái). Cái hình bóng con luôn gợi về một quá khứ say đắm yêu thương lẫn hiện tại cô quạnh, chứa chất hàng trăm câu hỏi trong đầu Trang. Ngần đó năm như thế đã đằng đẵng trôi qua. Sự chịu đựng vất vả, ê chề không phải là những lời đàm tiếu của thiên hạ (nó chỉ thoảng qua và bị hút vào những biến cố vang dội của thời cuộc). Sự chịu đựng sượng sùng, bẽ bàng cũng không phải từ phía họ hàng, bởi cô bác đều biết rõ Bắc là giọt máu của một người anh hùng. Nỗi chịu đựng khắc khoải, đau đớn bao năm tháng dằng dặc với Trang lại chính ở sự mất tích của Tần. Tần đã hy sinh, hay đã nhẫn tâm bội ước.

* *

*

Kể từ hôm mẹ anh báo tin lành - Bắc nghĩ - gia đình anh như được tắm trong một làn gió mới. Suốt ngày họ bàn bạc. Lúc thì tràn trề hy vọng với “vậy là, chắc thế”, lúc lại thắc mắc, hồ nghi với “hay là, có thể”. Mọi người như quan tâm đến nhau hơn, xích lại gần nhau hơn, (mặc dù xưa nay cái gia đình nhỏ bé này vẫn luôn thân thiết, gắn bó). Có cái gì đó giống như một thông điệp nguyện cùng kề vai sát cánh; một lần nữa sẵn sàng chờ đón, đương đầu với biến cố dù đó là tin vui hay tin buồn. Mỗi khi Bắc đi làm về, mẹ anh lại nhìn anh với ánh mắt đau đáu, thật tội nghiệp. Trong khi khuôn mặt mẹ cố che đi sự chứa chan hy vọng, thì ánh mắt lại không dấu được nỗi hồ nghi, cam chịu. Riêng Hương - vợ Bắc - thì ngược lại. Cô không phải kiềm chế, không phải dằn lòng dấu kín cảm xúc. Gần như suốt ngày từ chỗ làm, cô liên tục gọi điện cho chồng hỏi thăm tin tức. Hương cứ làm như chỉ một vài ngày nữa, niềm vui nhất định sẽ đến. Cô làm Bắc phát sốt lên, có lúc còn chỉ vẽ cho anh cả cách lục tìm thông tin trên mạng, một công việc mà trình độ của cô chỉ là i tờ so với anh. Nhưng anh vẫn giả bộ lắng nghe. Anh không muốn làm phật ý vợ trước cái cảm giác sung sướng, chồng mình sắp tìm được cha. Cha mình là một chiến sĩ đặc công.

Bắc là nhân viên quản trị mạng nội bộ của một công ty một trăm phần trăm vốn nước ngoài, chuyên sản xuất phần mền ở khu công nghiệp tỉnh. Mối “quan hệ” mạng là công việc anh rành rẽ, thuần thục. Đã hơn mười ngày nay, anh đã liên tục mail đến địa chỉ của bức thư “Bình Dương ơi” nhưng không có hồi âm. Không nhận được hồi âm, cũng không tìm được địa chỉ hộp thư, nhưng Bắc đã xác định được tên miền của Email. Đó là…

* *

*

Trại thương binh nằm ở huyện miền trung du yên ả. Chuyến đi không có gì vất vả. Sáng nay còn ở Bình Dương, sau bốn tiếng đồng hồ vừa bay ra Hà Nội vừa bám xe khách chất lượng cao, bây giờ đã đến đây, khiến Bắc như chưa kịp có cảm giác đổi vùng. Miền đất này giống hệt như quê anh. Cũng địa tầng cao thấp uyển chuyển, cũng những sườn đồi lúp súp uốn lượn chạy theo khe hợp thủy xuống thung lũng cây cối um tùm, thấp thoáng những mái nhà…

Không lẽ cuộc tìm kiếm suốt 30 năm vô vọng nay lại đơn giản đến thế ư. Trò ú tim của tạo hóa trớ trêu đến thế ư - Bắc cố nghĩ sự việc theo hướng thi vị hóa, để tạo sẵn cho mình một sự bình tĩnh cần thiết; để át đi sự hồi hộp khiến anh gần như ngạt thở. Chưa bao giờ anh như bây giờ. Ngay cả lúc thuyết trình một phương án sáng tác phần mềm ở trường đại học Singapore, trước các bậc giáo sự danh tiếng, anh cũng không hồi hộp như bây giờ. Cha anh sẽ là ai. Cha sẽ như thế nào trong cái trại thương binh này.

Là người có tác phong làm việc khoa học, thận trọng vốn được rèn luyện trong môi trường quản lý, điều hành của doanh nghiệp nước ngoài, Bắc đã khôn khéo ngụy trang cho sự xuất hiện của mình. Không có gì phải khuất tất, song xác suất của cuộc tìm kiếm này vẫn rất lớn. Nhỡ người viết thư không phải là bố Tần thì sao (bắt đầu từ hơn tháng nay, Bắc được mẹ truyền cho cách gọi ấy). Nhỡ lại là sự trêu đùa của số phận thì sao. Chẳng phải ai khác, chính anh, anh cũng sẽ không chịu nổi. Vì vậy, tốt nhất anh chỉ nên ở một vị trí tiếp cận tầm trung bình. Sẽ dễ chịu đựng hơn nhiều, nếu…

Mọi việc diễn ra trôi chảy quá mức tưởng tượng của Bắc. Trong vai một sinh viên làm luận văn sau đại học chuyên đề về sự hy sinh mất mát của người lính trong chiến tranh, Bắc được ban giám đốc trại tiếp đón niềm nở, sẵn sàng tạo mọi điều kiện. Và rồi những diễn biến tiếp theo hệt như một cuộn tơ đã được gỡ nút rối, tuồn tuột bung ra, trơn tru đến chóng mặt.

Trong phòng truyền thống, ở gian trưng bày sản phẩm do thương binh làm ra, Bắc bị hút vào những bức tranh được vẽ rất đẹp, treo kín mít trên tường. Phần lớn là tranh phong cảnh được vẽ theo lối thủy mạc pha phong cách hiện đại, ánh lên chất liệu của chì sáp mượt mà như lụa. Cảnh vật nhiều nhất là Hà Nội với những Tháp Rùa, Chùa Một Cột, Hồ Tây có những cành phượng đỏ, ngọn cau in bóng xuống mặt nước lăn tăn gợn sóng. Kế đến là cảnh đồi núi yên ả, có vòm trời xanh ngát, được nhấn bởi những mái ngói xinh xinh, những cụm công nghiệp khỏe khoắn. Ở góc gian trưng bày, có một bức tranh tĩnh vật khổ to cỡ 90x120 đã khiến Bắc dừng lại khá lâu. Tranh vẽ đôi bàn tay thon thả, mềm mại đang nâng niu một bông mai nhỏ. Nền của bức tranh mầu xám (gam mầu họa sĩ Kramskôi hay dùng), tạo độ tương phản làm nổi bật đôi bàn tay mầu hồng nhạt và bông hoa trắng óng ánh, thánh thiện. Dù đã được linh tính mách bảo, nhưng tai Bắc vẫn ù lên khi nghe cán bộ phong trào của trại giới thiệu, vẻ tự hào: “Đây là tranh của đồng chí Tần. Anh là một họa sĩ tài hoa của trại chúng tôi”. Trong trạng thái hồi hộp, lâng lâng như mộng du, Bắc bước vào phòng hồ sơ, kỷ yếu. Cầm trong tay quyển sổ trích ngang danh sách thương binh trong trại, Bắc không nén nổi hồi hộp. Phải vất vả lắm, anh mới kiềm chế được mình, lật giở từ tốn từng trang với động tác thận trọng, gượng nhẹ. Anh chỉ sợ lỡ mình vô ý làm một cử động mạnh, lập tức quyển sách sẽ tan biến. Các trang sách gần như giống nhau, đều chỉ là những dòng chữ khô khan, nhưng đằng sau đó là những người anh hùng. Họ đã hy sinh phần lớn cơ thể và sức lực, để đến bây giờ, mọi động thái sinh hoạt đơn giản cho sự sống, đều phải cần đến người phục vụ. Đây rồi, toàn thân Bắc run lên, tim như muốn bật ra ngoài: Vũ Đăng Tần - sinh ngày… tháng… năm 1950. Quê quán… đơn vị…. Bị thương ngày… tháng 3 năm 1972 - cụt 2 chân và tay phải - Thương binh hạng 2/4… Nhập trại ngày… tháng 12 năm 1974. Phấn đấu tự phục vụ từ tháng 5-1975. Trên góc phải trang trích ngang là ảnh một người đàn ông mắt sáng, mặt vuông vức đầy nghị lực ngồi xe lăn, cười, giơ tay vẫy. Ảnh được chụp dưới gốc cây bàng. Bóng nắng dọi qua kẽ lá, in xuống nền đất như một tấm vải dù lớn… Ba Tần đây. Ba Tần vẫy con đây.

Bắc sắp được gặp ba Tần rồi. Nghĩ đến phút giây ấy, lòng anh hân hoan khôn tả. Sẽ là một tình huống như thế nào nhỉ. Sẽ gọi, sẽ dẫn giải, sẽ chứng minh, rồi kể lể lẫn lộn trước sau.. rồi, sẽ ôm ba Tần, khóc… mặc cho ba Tần ngỡ ngàng, vui sướng. Và sẽ… sẽ gì gì nữa nhỉ!

Nhưng đúng vào lúc Bắc đang hân hoan tận hưởng các tình huống ào ạt của buổi gặp gỡ sắp tới ấy thì đột nhiên trong anh lóe lên một tia chớp. Không phải tia chớp với tiếng nổ kinh hoàng mà là tia chớp với hào quang ngũ sắc và những hợp âm đầy đặn, tươi vui. Không. Không - Bắc gần như reo lên - Niềm vui vĩ đại này, cuộc hội ngộ tuyệt vời này phải - là - của - mẹ, phải được dành cho mẹ. Sẽ không có một lời dẫn giải, không cần những lời kiểm chứng dài dòng. Chỉ cần một tiếng gọi… một tiếng gọi của trầm tích quá khứ và thênh thang hiện tại, là tất cả sẽ vỡ oà, hạnh phúc sẽ tràn ngập, nỗi khắc khoải sẽ tan biến. Anh khỏe hơn mẹ, anh sẽ đủ sức chờ đợi.

Bắc giữ kín mọi chuyện (tất nhiên), chia tay với ban giám đốc trại thương binh ra thị trấn thuê nhà trọ. Anh điện thoại cho mẹ kể lại sự việc, đồng thời sắp xếp lịch trình, chỉ dẫn đường đi cho Hương. Hương sẽ tháp tùng mẹ trong chuyến bay sáng sớm mai.

Má Trang ơi, ba Tần ơi!

Chỉ bằng giờ này ngày mai thôi, dòng sông với bao năm len lỏi, bao năm trầm lắng khổ đau, gào thét thác gềnh sẽ đổ ào ra biển, thỏa thuê và reo vui bất tận…

Truyện ngắn An Bình Minh
[Quay lại]