Hành trình của tôi qua 3 xã: Hòa Hậu, thị trấn Vĩnh Trụ (huyện Lý Nhân) và Bồ Đề (huyện Bình Lục). Đây là các xã được cho là có nồng độ thạch tín cao nhất của tỉnh Hà Nam. Ấn tượng đầu tiên của tôi là những chiếc ao tù bốc lên cái mùi nằng nặng khó chịu trong cái nắng gay gắt trưa hè. Nhưng dường như đó chỉ là một phần nhỏ trong câu chuyện về “nước sạch” của người dân nơi đây.
Nỗi lo asen
Tìm về nhà anh Trần Văn Năm, xóm 16, xã Hòa Hậu khi anh đang bán nước chè xanh. Anh tỏ ra bức xúc: “Từ khi lên báo, người ta ngại uống nước quán tôi vì sợ nguồn nước có vấn đề. Nhưng anh thấy đấy, cả xã nước đều vậy chứ có riêng gì tôi?”. Anh cho tôi xem 2 bàn chân bị nghi là “sừng hóa” của anh. Ở mắt cá chân và xung quanh có những điểm nổi cộm, dồn lên thành từng cục lớn. Anh cho biết, tốc độ dày lên của các “chai” này rất nhanh. Mỗi lần tắm, anh đều thấy nó bở ra, lấy tay cạo thì nó mỏng đi cho nên anh vẫn thường xuyên cạo cho da mỏng bớt. Dưới gót cả 2 chân đều bị lở ra từng mảng. Riêng chân phải, có thêm vài nốt đỏ bị khoét sâu vào trong chân. Anh vô tư coi những nốt đó là “mắt cá”. Nó chỉ làm anh khó chịu trong sinh hoạt thôi chứ cũng không gây đau đớn nhiều.
Tương tự, anh Trần Duy Trường ở xóm 10, xã Hòa Hậu cũng bị “chai” bên chân phải. Anh thường ngứa ngáy ở chân tay. Gần đây xuất hiện các nốt nhỏ ở tay, trông như nốt xám bã chè nhưng lại nổi cộm hẳn lên trên bề mặt da. Anh cho biết, nó mới xuất hiện. “Chắc do gãi ngứa” - anh tặc lưỡi. Gần chục người đánh dấu có dấu hiệu phát bệnh trong danh sách người dân đi khám mà tôi có được, ít nhiều đều có các triệu chứng như trên. Anh Trần Thế Tài, xóm 1; anh Trần Hữu Tuệ, xóm 3; anh Trần Doãn Thắng, xóm 6... đều ngứa ngáy lâu ngày, rất khó chịu. Ngoài ra, lòng bàn chân, bàn tay có dấu hiệu chai sần. Có người gãi tróc cả da thịt vì ngứa. Có điều lạ, hầu hết họ đều là nam giới (!).
Trưởng Trạm Y tế xã Hòa Hậu, anh Trần Duy Đoàn, cho biết: “Trong xã, số người mắc bệnh về da khá đông. Chúng tôi không đủ khả năng kết luận nguyên nhân. Nhưng các dấu hiệu phổ biến của bệnh như: ngứa, sừng hóa, chai cứng da... ở rất nhiều người là đáng lo ngại”. Đến nay, ngoài một chiếc bình lọc nước ra, trung tâm y tế xã chưa nhận được sự hỗ trợ nào đáng kể (ngoài việc tập huấn tuyên truyền).
Phong trào lấp giếng, xây bể
Bác Trần Thế Biên, xóm 1 Hòa Hậu đã 75 tuổi. Sống một mình nên bác không chú trọng việc nước nôi làm gì. Nhà bác có một cái giếng. Đã mấy chục năm nay, bác dùng nước giếng này như nhiều người hàng xóm khác. Bỗng một hôm có đoàn các nhà khoa học về, xét nghiệm nước rồi khuyên bác lấp giếng lại. Bác được nghe nói là nước có “thạch tín gì đó” và chuyển qua dùng nước giếng khoan có đi qua bể lọc. Thế là bác “giã biệt” giếng khơi để dùng chiếc bơm điện, vốn không mấy “mặn mà” với dòng điện rất yếu ở xã Hòa Hậu. Riêng xóm 1 đã có 9 cái giếng bị lấp rồi. Nếu không làm giếng khoan và bể lọc thì lấy gì mà ăn? Tiếng dữ đồn nhanh, hộ dân nào còn sử dụng giếng thì lấp giếng dùng giếng khoan. Có hộ, dù không được cảnh báo của xã nhưng vẫn lấp lại cho... chắc ăn.
Khảo sát một vòng các hộ gia đình trong các xã, đặc biệt là Hòa Hậu, tôi nhận ra phong trào xây bể đựng nước mưa đang phát triển mạnh. Nước máy dùng cho sinh hoạt, còn nước mưa dùng để nấu cơm, nước uống. Ở thị trấn Vĩnh Trụ, có nhà còn xây cái bể tới 40 m3 nước. Chỉ cần một mùa mưa có thể dùng cho cả năm. Con gà tức nhau tiếng gáy, người nhà quê vẫn vậy. Thấy nhà này bể to, nhà khác phải xây to hơn. Thường thì bể được xây thành 2 ngăn để dự trữ và sử dụng tiết kiệm hơn.
Hạn hán bỗng trở thành nỗi lo của bà con dệt vải. Nếu trời lâu lâu không mưa, sẽ khan hiếm nước uống, lúc ấy thật khó lòng xoay xở. Bên cạnh đó, không phải bà con nào cũng có điều kiện để xây bể lớn vài chục mét khối nước. Ở Hòa Hậu, Bồ Đề, có nhà vẫn phải lọc nước giếng khoan qua 2 lần bể lọc để uống. Còn ở Vĩnh Trụ, một số nhà thỉnh thoảng mang can sang xin nước nhà có bể lớn. Chưa bao giờ, nước lại trở thành vấn đề thời sự của các xã này như thời điểm hiện tại.
Nước sạch, phải có tiền!
Hòa Hậu có tới 18 xóm nhưng chỉ có xóm 7 và xóm 8 được sử dụng nước máy do một công ty cấp nước cung cấp. Bà con phải đóng 800.000 đồng chi phí lắp đặt đường ống đến mỗi hộ gia đình. Tiền nước giá 1.500 đồng/m3 nước. Dù phải mất tiền, nhưng bà con xóm lân cận vẫn mong muốn được sử dụng nước nhà máy cho an toàn. Thậm chí, một số người đã dẫn đường ống sang xóm dùng nhờ rồi chia đôi tiền. Ấy là cách đối phó trong hoàn cảnh “có tiền không được dùng tiền”.
Giải thích điều này, ông Chủ tịch UBND xã Trần Trọng Nhân cho biết: “Do điều kiện công suất của nhà máy không lớn. Địa phương cũng mới chỉ đầu tư được đến mức ấy thôi!”. Việc chọn mặt... cấp nước sạch dường như là có thật. Theo rỉ tai của người dân, 2 xóm này có người làm lãnh đạo nên được đầu tư (?!). Với hơn 200 hộ dân, 2 xóm này chỉ chiếm 1/10 tổng số hộ dân của xã.
Về thị trấn Vĩnh Trụ vào giữa trưa, tôi được nghe câu chuyện về ông Nguyễn Tiến Đoàn, xóm 6. Tuổi trạc ngũ tuần, mắt lại kém nhưng 2 năm nay nhờ “nạn asen”, ông tìm được công việc khá ổn định: Bán nước sạch. Ông mua nước ở nhà máy bia của thị trấn với giá 2.000 đồng/phi (khoảng 1 khối nước) rồi bán với giá 5.000 đồng. Hằng ngày ông chở hơn 20 phi nước bán cho các nhà “khá giả” trong thị trấn. Tuy nhiên, với thị trấn trông có vẻ khang trang này, ông Đoàn không thể đem nước sạch đến cho toàn bộ người dân được.