So với nông thôn, kinh tế TP phát triển trước nên tạo ra công ăn việc làm nhiều hơn, khởi sinh luồng di dân cơ học từ nông thôn dắt díu về TP sinh sống ngày càng nhiều.
Không ngăn nổi người nhập cư
Vì ngại lượng người nhập cư ồ ạt gây quá tải dân số, sinh ra đủ thứ phiền phức về giao thông, hạ tầng phúc lợi, an ninh trật tự, tệ nạn xã hội nên các TP đưa ra các điều kiện khắt khe về hộ khẩu để hạn chế dòng người này. Đây là biện pháp thuần mệnh lệnh hành chính mang hơi hướng của nền kinh tế chỉ huy, hoạch định cứng rắn.
Việc đưa ra các hạn chế như vậy chỉ là hạn chế nhập hộ khẩu chứ không có nghĩa là cấm người nhập cư đến sinh sống ở TP. Không chính quyền nào có quyền hay có thể trục xuất người nhập cư về quê gốc cả, vì vậy họ cứ sống và cứ không hộ khẩu. Trên thực tế cái hộ khẩu đã không đảm đương nổi vai trò ngăn dòng người nhập cư mà các nhà chức trách kỳ vọng.
Nó chỉ làm được mỗi việc không ai giao cho nó - mà lại làm rất xuất sắc - là cùng với các thủ tục ăn theo thiên hình vạn trạng gây đủ mọi loại khó khăn, sinh ra đủ thứ nhũng nhiễu, tiêu cực trên phận người khốn khổ của những kẻ nhập cư. Ngoài ra nó cũng không giúp gì cho an ninh công cộng như người ta nghĩ, mà ngược lại, còn âm thầm che giấu tội phạm. Trong cả triệu người nhập cư đông đúc đó, đều không có hộ khẩu cả, biết ai là kẻ bất lương trốn tránh luật pháp “lặn” trong đó?
Ngoài ra, hộ khẩu còn gây khó khăn cho việc người dân di chuyển cư trú giữa các TP, một người từ TPHCM hay Hà Nội cũng không thể chuyển hộ khẩu về Đà Nẵng. Không nghi ngờ gì,đây là điều thực sự vô nghĩa.
Thay đổi tư duy và bỏ cơ chế xin - cho
Luật Doanh nghiệp năm 2000 đã có bước đột phá về mặt tư duy, mọi giấy phép kinh doanh trước đó từ nay đổi thành giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Cốt lõi sự thay đổi này là bắt đầu thừa nhận quyền tự do kinh doanh của người dân mà trước đó không có. Khi còn phải xin phép nghĩa là người dân không có quyền, không có quyền nên mới xin Nhà nước ban phát cái quyền ấy cho. Khi thừa nhận quyền tự do kinh doanh là quyền vốn có của người dân rồi thì người dân không xin nữa, dân chỉ đến báo cho Nhà nước rằng tôi kinh doanh đây, ông biết để mà quản lý. Cái báo để biết ấy là tấm giấy chứng nhận đăng ký.
Tương tự như quyền tự do kinh doanh nói trên, quyền tự do cư trú của người dân có được thừa nhận không? Tôi cho rằng không có gì bàn cãi trong Luật Cư trú cả, vì luật nào mà không theo hiến pháp, trong khi hiến pháp đã công nhận ở điều 68. Vì vậy, vấn đề là quyền này có được các nhà chức trách thừa nhận trên thực tế và Chính phủ có cho phép các TP tiếp tục duy trì các hạn chế hay không? Vấn đề này nếu muốn Chính phủ chỉ cần ban hành một văn bản bãi bỏ các hạn chế do các địa phương đặt ra và có thể thực hiện ngay lúc này mà không cần đợi Luật Cư trú được Quốc hội thông qua.
Một khi có quyền tự do cư trú thực sự thì người dân chỉ cần đăng ký mà không cần xin xỏ ai. Trừ những người có án quản chế và ở những khu vực thật đặc biệt do Chính phủ quy định, trong mọi trường hợp các nhà chức trách không có quyền từ chối đăng ký. Khi cái hộ khẩu không còn gây khó khăn được nữa thì dần dần “đám ăn theo” cũng lần lượt tự rã đám, tan hàng.