Khắp đất nước hình chữ S, hầu như tỉnh, thành nào cũng có làng nghề. Trong hơn 1.500 làng nghề cả nước, hiện còn 300 làng nghề truyền thống làm ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, được bán tại thị trường nội địa và xuất khẩu. Khi VN chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, cơ hội xuất khẩu của sản phẩm làng nghề VN rất lớn. Thế nhưng, trên thực tế, số phận của làng nghề VN hẩm hiu dần: Chỉ còn 32% làng nghề phát triển tương đối tốt; 42% làng nghề hoạt động cầm chừng; 26% làng nghề có nguy cơ bị xóa sổ.
Bắt bệnh...
Theo Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Thương mại, sản phẩm làng nghề VN tinh xảo hơn hàng Trung Quốc, nhưng giá mắc hơn. Nguyên nhân là do chi phí đầu vào cao cộng với phí vận chuyển cắt cổ, nên tình trạng nhập khẩu ngược đã xảy ra: Nhiều mặt hàng mỹ nghệ truyền thống của Trung Quốc lấn sân thị trường VN. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp VN ham rẻ đã nhập hàng Trung Quốc về bán cho khách quốc tế, bóp chết làng nghề “nội” vốn thường xuyên yếu về vốn và kém về tư duy làm ăn.
Thêm vào đó, điểm yếu muôn thuở của làng nghề VN là thiếu liên kết, năng lực sản xuất - cung ứng thấp, không đáp ứng những đơn hàng lớn dẫn đến mất khách. Ví như trường hợp của một công ty thời trang của Đài Loan, năm 2003 hay tin làng dệt Mã Châu (Quảng Nam) có lụa tơ tằm nổi tiếng, đã ghé thăm, dự định đặt mua một lượng vải lụa lớn, nhưng nhìn “làng nghề” chỉ có... vài chục máy dệt thủ công, đành lắc đầu, bỏ ra Vạn Phúc; nhưng xứ lụa Hà Đông cũng không làm “mát” được lòng khách, bởi thiếu thiết bị làm mịn lụa công đoạn cuối.
Để tìm đầu ra cho sản phẩm, trong khi các làng nghề không đủ khả năng quảng bá, xúc tiến thương mại ở nước ngoài, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nước làm rất tốt việc này. Tuy vậy, hiện chưa có sự gắn kết giữa làng nghề và các doanh nghiệp cầu nối, khiến hàng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu lại cứ quanh quẩn... sau lũy tre làng! Tại Hà Nội và TPHCM, nhiều công ty TNHH đã linh hoạt tận dụng nguồn nguyên liệu, nhân công và “thương hiệu” làng nghề để kết hợp với tư duy kinh doanh phù hợp, mẫu mã mới... đã làm ăn có hiệu quả. Nhưng trên cả nước, số này không nhiều.
Đói thương hiệu
Làng nghề chính là chiếc nôi cung ứng hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu cho thị trường trong nước và thế giới. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ VN hiện đã có mặt tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Liên hiệp châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản. Năm 2007, mục tiêu của ngành thủ công mỹ nghệ VN là đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 740 triệu USD (tăng hơn 17% so với năm 2006: 627 triệu USD).
Với năng lực hiện tại, không khó để ngành thủ công mỹ nghệ VN đạt được mục tiêu này. Nhưng để phát triển căn cơ, lâu dài khi vào chợ thế giới, ngành hàng nói trên hiện chưa tạo được một nền móng vững chắc. Điểm yếu dễ nhìn thấy nhất là làng nghề VN chưa có nhiều thương hiệu nổi tiếng. Suốt 5 năm qua, những làng nghề có sản phẩm xuất khẩu vẫn chỉ là những cái tên cũ rích, như Bát Tràng (gốm), Vạn Phúc (lụa), Đồng Kỵ (đồng đúc), Non Nước (đá mỹ nghệ), Bình Dương (gốm sứ), Bảy Hiền (vải)... Trong số này, nhiều làng nghề đã không giữ được “phong độ”, chết tên dần.
Làng dệt Bảy Hiền (phường 11, quận Tân Bình - TPHCM) là một điển hình. Đầu những năm 1990, vải dệt của Bảy Hiền chinh Nam phục Bắc, có thời điểm sản phẩm làm ra không kịp để xuất khẩu sang Lào, Campuchia. Chừng 10 năm sau, vải lậu (chất lượng khá, giá rẻ) chủ yếu từ Trung Quốc đổ vào ào ạt, mẫu mã thay đổi xoành xoạch theo thị hiếu người tiêu dùng buộc phải thay đổi máy móc, thiết bị liên tục; dân dệt Bảy Hiền hụt hơi... Thêm nữa, cách làm ăn manh mún, chụp giựt, mạnh ai nấy làm... đã khiến làng nghề sa sút. Thương hiệu làng nghề Bảy Hiền dần rơi vào tình trạng “cha chung không ai khóc” suốt mấy năm nay, có lẽ đang chờ ngày cáo chung!
Trái ngược với Bảy Hiền, giữa làng gốm sứ Bình Dương, cái tên Minh Long nổi bật hẳn lên nhờ những quyết định khôn ngoan: Dựa vào lợi thế làng nghề và phát huy sự nhạy bén thương trường để làm nên một cái tên Minh Long nổi đình nổi đám trong giới doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ VN.
Những năm gần đây, Công ty Cổ phần Gốm sứ Minh Long I đạt kim ngạch xuất khẩu trung bình 12 triệu USD/năm. Đây là con số mơ ước của nhiều doanh nghiệp cùng ngành. Yếu tố ngoại quan cũng là nền tảng làm bệ phóng cho Minh Long vươn ra biển lớn chính là làng nghề gốm sứ Bình Dương nổi tiếng, có truyền thống hàng trăm năm. Và trên mỗi sản phẩm gốm sứ, Minh Long thổi vào đó nét văn hóa truyền thống của làng nghề, rộng ra là văn hóa Việt. Đây chính là sự kết hợp quan trọng “bấm nút” quyết định mua của khách hàng quốc tế.
Du lịch làng nghề: Hướng mở?
Một trong những hướng phát triển của làng nghề VN là gắn kết du lịch - làng nghề - dịch vụ. Nhiều tỉnh, thành VN hiện nay có thừa tiềm năng và khả năng thực hiện tốt cách làm này.
Tin mới nhất từ Tổng cục Du lịch VN, Tổ chức Du lịch Thế giới, Tổ chức Phát triển Hà Lan và Cơ quan Hợp tác quốc tế Tây Ban Nha vừa ký bản ghi nhớ tài trợ cho dự án phát triển du lịch làng nghề Hà Tây với số vốn 70.000 USD để xây dựng kế hoạch phát triển du lịch làng nghề trong tỉnh; đào tạo, nâng cao năng lực quy hoạch, quản lý của ngành du lịch. Dự án được thực hiện từ tháng 4-2007 đến tháng 3-2008.
Không chỉ Hà Tây, Hòa Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam... đang triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả loại hình du lịch này. Điển hình như tại Hội An (Quảng Nam), trong các tour điền dã của khách quốc tế, làng gốm Thanh Hà và làng rau Trà Quế luôn là điểm đến được lựa chọn. Thực tế này gợi mở cho các tỉnh, thành có tiềm năng về du lịch sinh thái cách khai thác thế mạnh của làng nghề. Không chậm chân, ở miền Nam, một doanh nghiệp tư nhân đã mở ra tour làng nghề theo tuyến TPHCM - chợ nổi Cái Bè - làng nghề Vĩnh Long. Du khách đến, thương mại - dịch vụ có cơ hội phát triển, tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho cư dân địa phương.