Sự việc bắt nguồn từ 4 vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra liên tiếp trong các bữa ăn tập thể trên địa bàn TPHCM trong hai ngày 11 và 12-6 vừa qua.
Dù thực đơn trong các vụ ngộ độc này khá phong phú như cá ngừ, canh bí đỏ, đậu xào, canh cải, dưa leo, canh chua... song cá ngừ nhanh chóng bị coi là nghi can số một.
Cho rằng cá ngừ là “thủ phạm” chính nên Sở Y tế TP lập tức cử đoàn tới kiểm tra chợ đầu mối Bình Điền. Sau khi lấy mẫu về kiểm tra và “phán” một số hộ phải ngừng kinh doanh cá ngừ, cơ quan này còn ban hành ngay một văn bản gửi Sở GD-ĐT, Ban Quản lý các KCN, KCX, UBND các quận, huyện... khuyến cáo các bếp ăn tập thể không nên sử dụng cá ngừ.
Mặc dù Sở Y tế TP chưa ra lệnh cấm kinh doanh và ăn uống cá ngừ song chẳng mấy người còn dám ăn cá ngừ nếu cơ quan có thẩm quyền đã coi đó là nghi can số một gây ra các vụ ngộ độc thực phẩm khiến hàng trăm người phải nhập viện.
Việc Sở Y tế TP coi cá ngừ là nghi can chính gây ra ngộ độc thực phẩm lại khiến công luận nhớ tới chuyện ông bộ trưởng y tế từng “phán” mắm tôm là nghi can số một gây ra dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm. Đến khi mắm tôm được tuyên vô tội thì bà con sản xuất và kinh doanh mắm tôm đã phải một phen điêu đứng.
Đành rằng với vai trò và chức năng của mình, Sở Y tế TP phải có những phản ứng nhanh để bảo vệ sức khỏe của cộng đồng. Tuy nhiên, không thể vì thế mà có những quyết định hay hành động vội vã, thiếu cơ sở khoa học. Cho rằng cá ngừ là nghi can số một gây ra ngộ độc cho khoảng 400 người, sao Sở Y tế không đặt vấn đề ngược lại là có rất nhiều người khác cũng ăn cá ngừ từ chợ Bình Điền nhưng không bị ngộ độc?
Từ “nghi can” mắm tôm, nay đến cá ngừ cho thấy cơ quan công quyền khi hành xử thường hay cửa quyền và áp đặt. Họ chọn cái dễ để hoàn thành trách nhiệm của mình, còn cái khó thì đẩy cho người dân. Còn tư duy và hành xử như thế có rút mãi cũng khó mà ra kinh nghiệm.