Ngày giỗ trận

Thứ Năm, 18/02/2010 01:30

Sau mấy ngày Tết Nguyên đán là đến ngày Giỗ Trận Đống Đa. "Giỗ" là "lễ tưởng nhớ người đã chết hàng năm vào dịp ngày chết" (theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt). Vậy thì ngày này ai "giỗ" và "giỗ ai"? Người làm giỗ cho những kẻ tử trận là những người làm nên chiến thắng năm Kỷ Dậu 1789. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép: "Hội quân ở núi Tam Điệp ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân (1788), vua Quang Trung khẳng định: "Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi...

Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua chỉ trong mươi ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp mười lần nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thì Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa”.

Trưa mùng 5 Tết, Quang Trung tiến vào thành Thăng Long sớm hơn dự kiến một ngày! Hàng vạn xác quân Thanh nằm ngổn ngang, những người thu dọn chiến trường đã chôn cất họ thành 13 gò đống lớn, có đa mọc um tùm nên gọi là gò Đống Đa. Việt Nam sử lược lại chép tỉ mỉ: “Về sau bọn khách trú ở Thăng Long làm cái đền thờ Sầm Nghi Đống ở ngõ Sầm Công, sau Hàng Buồm”. Ngõ Sầm Công vẫn còn, không đập bỏ đi, biểu thị tấm lòng khoan dung độ lượng của người chiến thắng. Đây không là một ngẫu nhiên mà là một ứng xử nhất quán của ông cha ta trong lịch sử.
 
Hãy đọc lại Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn chép lời Lê Lợi: “Việc dùng binh cốt lấy bảo toàn cả nước làm trên  hết (toàn quốc vi thượng). Nay ta đã cho bọn Vương Thông trở về nói với vua Minh, trả lại đất đai cho ta, không xâm lấn bờ cõi ta, đó là điều ta không cần gì hơn thế nữa. Hà tất phải giết hết bọn chúng để gây oán với nước lớn làm gì”.

Từ những sự kiện vừa dẫn cho thấy sự thật lịch sử có lúc mờ lúc tỏ, song dòng chảy lịch sử bất tận đã tạo nên sức mạnh bất diệt của dân tộc. Thế hệ đang sống hôm nay phải được tắm mình vào trong dòng chảy lịch sử đó để tự hào về ông cha mình trong trường kỳ dựng nước và giữ nước.

Chiến thắng thần tốc đập tan mấy chục vạn quân xâm lược nhà Thanh nói lên thiên tài quân sự của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, song nếu ngẫm nghĩ thật kỹ, cũng là sự bứt phá trong vận động tự thân của dân tộc đưa đến những hợp trội kỳ diệu.

Việt Nam sử lược chép về thời Lê Chiêu Thống như sau: “Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?”. Khi mà người đứng đầu trăm họ đã hèn nhát nhục nhã như vậy thì hưởng ứng lời kêu gọi của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng lên đánh giặc cứu nước là điều tất nhiên. Sử chép: Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), dừng chân ở Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn.

Thử hỏi không có sức dân ấy thì làm sao có được chiến thắng thần tốc 6 ngày diệt tan mấy chục vạn quân xâm lược? Không có sức dân thì dù là thiên tài cũng phải bó tay. Biết khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh được khởi nguồn từ mệnh lệnh trái tim nhân dân là bản lĩnh của người lãnh đạo.


Vào ngày “giỗ trận”, những âm vang của lịch sử quả có sức lay động mãnh liệt. Sức lay động của bản lĩnh Việt Nam.

Tương Lai
[Quay lại]