Những thông tin đầy thao thức về vòng luẩn quẩn khó nghèo vây lấy người trồng lúa trong bài viết "Bao giờ mới giàu?" của nhà nông học, GS-TS Võ Tòng Xuân (đăng Báo NLĐ ngày 25-2) đã khơi gợi cho hàng trăm ý tưởng của bạn đọc khắp nơi gửi về báo, cùng bàn thiết chế mới cho điều hành sản xuất, xuất khẩu gạo, cốt để hạt gạo quê nhà thêm giá trị, nông gia thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
Trong đó, hàng loạt bức xúc về sự tái diễn thảm cảnh được mùa - rớt giá ở ĐBSCL đã thôi thúc các cơ quan hữu trách phải sớm điều chỉnh những bất cập trong chính sách lúa gạo hiện nay!
Quan tâm nhiều hơn đến nông nghiệp - nông thôn - nông dân, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã có nhiều quyết sách, chủ trương quan trọng, như ban hành nghị quyết về tam nông, quyết định về liên kết 4 nhà, chỉ thị các công ty lương thực mua lúa với giá bảo đảm cho nông dân có lãi ít nhất 30%.
Chủ trương đúng và thiết thực nhưng chưa hiệu quả bởi công đoạn tổ chức thực hiện bị cắt khúc, không được làm đến nơi đến chốn hoặc vì công nghĩa ít - tư lợi nhiều. Nguyên nhân là do khâu giám sát thực hiện không chặt chẽ, chưa có chế tài phù hợp đối với các đơn vị mắc sai phạm hoặc gây thiệt hại...
Từ lâu, ông cha ta đã xác định “dĩ nông vi bản”, “phi nông bất ổn” để khẳng định tầm quan trọng của nông nghiệp đối với kinh tế nước nhà. VN là một quốc gia nông nghiệp với khoảng 70% dân cư làm nghề nông, vậy mà đã hơn 20 năm kể từ ngày hạt gạo VN bước ra thế giới, số hộ gia đình giàu lên nhờ hạt lúa chẳng là bao.
Trái ngược với bức tranh cơ hàn ấy, không ít công ty lương thực lãi mỗi năm đến hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỉ đồng từ xuất khẩu gạo. Sự tương phản đó mặc nhiên vọng lên hàng loạt câu hỏi nhức nhối: Tiếng nói và chỗ đứng của người trồng lúa ở đâu trong cơ chế điều hành xuất khẩu gạo, do Hiệp hội Lương thực VN (VFA) cầm trịch, trước nay? VN là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới nhưng người làm ra hạt gạo vẫn nghèo, vậy bàn tay nào đã thu vén hết chuỗi giá trị gia tăng mà đáng ra nhà nông được hưởng phần nhiều nhất?
Cắt đặc quyền của VFA, thiết lập sự bình đẳng hơn nữa trong hoạt động xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp và đầu tư nhiều hơn cho nông dân, đó là những giải pháp khả thi nhất có thể tiến hành sớm để người trồng lúa được hưởng đúng, hưởng đủ quyền lợi vật chất so với công sức họ đã bỏ ra. Đây cũng là cơ sở để xây dựng những thiết chế, chính sách tiến bộ, sòng phẳng và có lợi hơn cho tam nông về sau.