Sau đình chiến, tôi và anh được lệnh ở lại miền Nam công tác, không đi tập kết. Những ngày đi bộ từ khu 9 (Cà Mau) trở về quê Mỹ Tho là những ngày “ trăng mật” của vợ chồng tôi.
Chúng tôi đi bộ, bí mật bằng đường giao liên. Sợ bị địch bắt nên ban ngày trốn nhờ nhà dân, ban đêm, trời vừa chạng vạng tối là chúng tôi bắt đầu lên đường, không được hút thuốc, không gây tiếng động, không nói chuyện để không bị địch phát hiện.
Đoàn chúng tôi khoảng trên chục người gồm cả bộ đội và dân chính, đến đâu cũng có giao liên địa phương dẫn đường và bảo vệ. Bất cứ lúc nào giao liên và trinh sát báo tình hình bình yên, không có địch bố ráp, phục kích là chúng tôi hành quân. Bởi thế, có lúc chúng tôi phải đi dưới mưa suốt đêm.
Vượt qua bao nỗi vất vả, nguy hiểm, cả tháng trời chúng tôi từ rừng U Minh đi qua Rạch Giá, về Cần Thơ đến Vĩnh Long và cuối cùng là tỉnh Định Tường.- nay là tỉnh Tiền Giang.
Chiều hôm đó, chúng tôi chuẩn bị vượt lộ. Chỉ cần từ bờ Nam Quốc lộ 1A vượt qua được qua bờ Bắc một cách an toàn là xem như đoàn chúng tôi hoàn thành tốt đẹp một chuyến hồi cư.
Đến trạm dừng chân, anh giao liên phổ biến tình hình, kế hoạch vượt lộ. Mỗi ngày, khi trời vừa sụp tối là từng đoàn xe nhà binh của địch mà người dân thường gọi là xe GMC, và lính biệt kích thay phiên nhau tuần hành dọc theo Quốc lộ 1A, hòng ngăn chặn cán bộ và bộ đội từ chiến khu trở về thành phố.
Ban ngày, chúng tôi không dám đi và chỉ chờ khi trời vừa nhá nhem tối địch chưa kịp tuần tra. Khi lính trinh sát và anh giao liên ra lệnh lên đường là đoàn quân chúng tôi, người sau nắm chéo áo người trước, bước thấp bước cao, mang ba lô chạy thật lẹ, trên một khoảng đồng ruộng trống chừng một cây số, rồi trầm mình bơi qua mương lộ.
Cặp theo hai bên quốc lộ là mương lộ. Mương chỉ rộng hơn mét nhưng rất sâu. Sợ ướt ba lô nên khi lội phải đội ba lô lên đầu. Người biết bơi dìu người không biết. Vợ chồng tôi dìu nhau qua mương. Vừa lên được mí lộ thì có một quán cốc bên lề.
Anh bộ đội đi chung trong đoàn hỏi nhỏ chồng tôi:
- Anh có tiền không? Cho tôi xin một cắc.
Chúng tôi lắc đầu.
Anh ấy có chín cắc muốn xin thêm một cắc để mua mười viên kẹo. Anh ấy chạy nhanh vào quán mua mấy viên kẹo và vội vàng trở ra đưa cho chồng tôi một viên. Chúng tôi hòa nhập vào đoàn quân chạy nhanh qua lộ.
Vừa chạy chồng tôi vừa cắn đôi viên kẹo, chưa kịp bóc giấy bóng gói bên ngoài trao cho tôi. Vừa kịp lúc chúng tôi phải trầm mình lội xuống mương lộ phía Bắc. Bơi qua mương lộ lên bờ, chúng tôi cắm cổ chạy thêm một cây số nữa mới vào được nơi an toàn. Vượt lộ là việc nguy hiểm nhất, sinh mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”.
Thật là may mắn! Nếu có sự cố xảy ra, chúng tôi có thể bị địch phát hiện trong lúc đang chạy trên đồng trống; hoặc bị lính tuần tra bất ngờ tấn công, cho đạn pháo bắn chặn đầu hoặc vét đuôi của đoàn thì thật là “ tiến thoái lưỡng nan,” không thể chạy tới mà cũng không thể chạy ngược lên lộ, cả đoàn có thể chết chùm.
Đến được nơi an toàn, chúng tôi ngồi hàn huyên tâm sự. Trong lúc sự sống và cái chết cách nhau trong gang tất mà đồng đội vẫn chia cho chúng tôi một viên kẹo và viên kẹo ấy lại được chồng tôi cắn làm đôi. Thật là một miếng khi đói bằng một gói khi no.
Đi suốt chặng đường dài trên một tháng trời, gian nan vất vả, ăn uống thiếu thốn. Khi trầm mình xuống nước lạnh lẽo, chỉ cần ngậm nửa viên kẹo của anh bộ đội cho mà chúng tôi cảm thấy tươi tỉnh ví bằng ngày nay được ngậm sâm cao ly trong miệng.
Mấy chục năm trôi qua, nay đã già, nhớ lại chuyện xưa, tôi nghe bồi hồi trong dạ. Trong đoàn quân ngày đó, không biết bây giờ ai còn ai mất, anh bộ đôi năm xưa giờ đang ở đâu… Đồng chí, đồng đội ngày ấy, nếu còn sống giờ hẳn cũng ngoài 80 tuổi cả rồi.
Vợ chồng chúng tôi không bao giờ to tiếng cãi vã, chưa bao giờ xưng hô với nhau bằng danh từ gì khác ngoài hai từ “anh, em”. Các con tôi, năm trai năm gái đề huề, thành nhân chi mỹ.
Ngày xưa đã từng có chung một kỷ niệm, từng trải qua những khó khăn nguy hiểm sinh tử nghèo đói bên nhau, chia sẻ với nhau một viên kẹo nên trên sáu mươi năm qua chúng tôi luôn đong đầy hạnh phúc dù cuộc sống có thiếu thốn, khó khăn cũng chẳng thể rời xa nhau.