Bằng Việt không là kẻ “lưu ban thế kỷ”

Thứ Sáu, 11/07/2008 23:29

Tập thơ Nheo mắt nhìn thế giới là sự kìm nén, hóa giải một Bằng Việt trữ tình và triết lý xưa kia để trở thành một Bằng Việt trào lộng, tự hào hôm nay

Có một lần ngồi uống cùng nhau trong chiều thu, năm đầu tiên của thế kỷ mới, tôi nói với Bằng Việt: “Ông có thấy chúng mình là người của thế kỷ mới hay không? Hay chính chúng mình vẫn là những người Lưu-ban-thế-kỷ”. Bằng Việt cười cụng ly và có vẻ tâm đắc câu “Lưu-ban-thế-kỷ”. Ít lâu sau, Bằng Việt đọc cho chúng tôi nghe bài thơ Người của thế kỷ trước. Hóa ra sự tâm đắc ấy chính là sự khước từ “dấu ấn cũ càng của thế kỷ vừa khép lại”, sự tự vượt qua những hào quang quá khứ để tạo ra những giá trị mới. Và để chứng minh điều đó, Bằng Việt đã ấn hành ngay tập thơ Ném câu thơ vào gió, vào năm 2001, được ngay giải thưởng Hội Nhà văn và sau đó là giải thưởng Đông Nam Á. Còn đến hôm nay là Nheo mắt nhìn thế giới (Nhà Xuất bản Văn học 2008), trong đó có bài thơ Người của thế kỷ trước.

Điều khiến ta nhận ra rõ ràng ngay ở Nheo mắt nhìn thế giới là sự kìm nén, hóa giải một Bằng Việt trữ tình và triết lý xưa kia để trở thành một Bằng Việt trào lộng, tự hào hôm nay. Để tạo ra điều ấy, cứ ngỡ dễ dàng, nhưng đấy chính thực là một cuộc tự cách tân trong thi pháp của tác giả. Dường như không thấy một dấu vết gì của một Bằng Việt ấm nồng trong Bếp lửa, hồ hởi trong Những gương mặt-những khoảng trời, thăng hoa trong Đất sau mưa, đắn đo trong Khoảng cách giữa lời, và u ẩn trong Phía nửa mặt trăng chìm. Con người thi sĩ ấy đã lột xác và lạnh lùng Nheo mắt nhìn thế giới.

Để có thể làm được sự vượt lên đó, chính Bằng Việt đã phải đau đến tận cùng về số phận của thi ca hôm nay:

Những câu thơ có thể là gì?/Là một cơn say/Khao khát chuyến tàu rời bến /Là một cơn điên /Trước mọi thứ trên đời bất cập.../Hay cũng có thể chẳng là gì cả/Khi vo tròn, ru ngủ thế thôi!

(Có thể)

Có khi là sự day dứt vĩnh biệt những giá trị cũ trong Cổ rồi: “Cổ rồi khép nép mộng mơ... Tìm đâu áo trắng ngày thơ chung tình”. Có khi là cái nhìn nhoi nhói vào sự thật về sự bất tử của thi ca trong Thơ hay - có cần phải chết?: “Thơ càng sắc, càng kiêu, càng chớ mong bất tử - Miễn đừng để loài người hèn hạ tối tăm đi”. Trước hiện thực mới đầy những mâu thuẫn, những nghịch lý khó tin, nhà thơ đành Ừ thì: “Ừ thì vẫn còn chén rượu, cơn say chỉ ít ai ngông thích làm Lý Bạch”. Nhưng cái khó để tự định ra chừng mực, góc nhìn trước hiện thực mới, để không ngoa ngôn, không gào thét, không quá đi đến mức thành ra “chửi đổng”, trong con tim nhà thơ vẫn rơm rớm những lời tự nhủ:

Thôi hãy khoan ngậm ngùi/Những gì chưa dễ có/Thôi hãy khoan ruồng bỏ/Những gì chưa dễ qua…

(Thôi hãy khoan)

Ta nghe như có tiếng nấc nghẹn đâu đó nơi thẳm sâu của nhân tình thế thái. Từ thực tế ở khu tập thể “mỗi ngày nhốt con tám tiếng”, phải biến căn nhà thành ngục tù trẻ nhỏ vì cuộc sống quá nhiều bất cập đến cái nhìn “thành phố như trại lính- Đường đi như chiến hào” đã cho thấy để thoát khỏi những run rẩy hồn nhiên, những sâu sắc sách vở, cuộc tự cách tân trong thơ Bằng Việt là cuộc chuyển hóa từ “động sang tĩnh” đến “tĩnh sang động”, đằm sâu dưới lớp lớp thông tin, là cuộc đành dằn lòng dứt bỏ những đồ vật cũ mà anh phải buộc thốt : “Trời ơi! Những câu thơ từng say mê thế- chả lẽ cũng là đồ vật cũ mà thôi”.

Với tâm thức như thế, Bằng Việt xót xa về sự mưu sinh khốc liệt của con người hôm nay qua Du lịch sinh thái hay Bán thuốc ở Nam Định: “Bán thuốc thời nay cao hơn bán thuốc - Cao hơn thời mãi võ bến tàu xe...”. Bàn về sự băng hoại những giá trị truyền thống qua Sinh ư nghệ - tử ư nghệ hay Vợ thời @ đắng ngắt những chiêm nghiệm: “Chồng để làm gì nhỉ - để làm bung xung chơi - thời buổi này ngắn lắm - ưu tư mà hết hơi”; bàn về sự hóa giải hận thù dân tộc qua Rượu Nguyễn Cao Kỳ hay Corsika thẳm sâu và xót xa: “Hòn đảo trong tôi từ nay long lanh - rớt giữa trùng khơi như giọt nước mắt...”; bàn về vấn nạn tham nhũng, coi thường trí thức qua Nhà hát lớn hay Lý sự vụn về xe: “Cái sang thời ấy là bao ba số - là chai rượu Tây, là bộ đồ Tàu - cái cao chỉ đo bằng sổ Tôn Đản, nhà thơ - chưa bao giờ đo bằng chất xám”; bàn về thói nịnh nọt tùy tiện qua Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông hay Sự kiện tày đình và chợt ngậm ngùi những đêm mất ngủ vì ngẫm suy thời thế qua Không đề.

Tuy đã chủ động vượt thoát mình để tìm đến những đóng góp mới cho thơ hôm nay, Bằng Việt vẫn mang theo lòng trắc ẩn thi sĩ như cái lõi rất cứng ở bên trong. Làm sao không thảng thốt khi đọc: “Được chuyển động làm bù nhìn của gió” hay “Có nỗi buồn bay qua lỗ kim”. Làm sao có thể cầm lòng khi đọc: “Rớt giữa trùng khơi như giọt nước mắt” hay “Tiếng reo xa xưa nhói vào tiềm thức”, một câu thơ tưởng rất bình thường nhưng lại có chữ cuối chích vào ngực như mũi dao: “Em mãi mãi ngủ yên, mà tôi thì sống sót”. Sự đa nghĩa của chữ “sót” đã nâng câu thơ bay lên rất cao. Trở lại bài thơ như cái mốc để bảo thơ tự vượt thoát mình- bài Người của thế kỷ trước - ta thấy Bằng Việt đã điềm tĩnh vẽ ra một chân dung “lưu ban thế kỷ” mà có khi trong đó cũng có cả hình bóng của chính mình ở những khoảnh khắc không biết giật mình:

Vẫn nói, vẫn cười, vẫn ăn, vẫn uống/Vẫn cao ngạo, tự tin điềm tĩnh/Nhưng trên gương mặt anh đã có những gì khuất lấp/Anh- người của thế kỷ khác rồi

Bằng sự bình thản của một nhà thơ không muốn “lưu ban thế kỷ”, Bằng Việt đã lặng lẽ “Nheo mắt nhìn thế giới”, để chiêm nghiệm sự nhẫn nhịn của mình, của thời đại giữa những xô dạt buồn vui bằng một giọng “nói thơ” như chơi mà rất đáng cùng chia sẻ.

Nguyễn Thụy Kha
[Quay lại]