Trong 6 tháng cuối năm, Chính phủ phải có những giải pháp hợp lý nhằm bảo đảm mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Nhận định này được đưa ra tại hội thảo ngày 15-7 với chủ đề “Quản lý thị trường và giá cả nhằm kiềm chế lạm phát”do Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính) chủ trì.
Nhiều nguy cơ tăng giá
Theo các chuyên gia, trong bất kỳ nền kinh tế nào, công cụ hữu hiệu để kiểm soát lạm phát là quản lý được thị trường và giá. Thị trường giá cả không chỉ bó hẹp trong hàng hóa dịch vụ tiêu dùng mà còn được hiểu bao gồm cả thị trường giá cả tín dụng ngân hàng, tài chính (lãi suất, thị trường ngoại hối, tỉ giá) và thị trường lao động tiền lương.
TS Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, đánh giá chúng ta đang phải đối mặt với hàng loạt nguy cơ tăng giá. Từ bên ngoài là giá dầu thế giới leo thang, kinh tế Mỹ suy thoái. Trong khi đó, nội lực nền kinh tế đang xuất hiện những vấn đề mới: Tăng lãi suất ngân hàng ảnh hưởng đến khu vực sản xuất, nhập siêu tăng, thị trường chứng khoán, bất động sản thiếu lành mạnh. Gần đây, một số thị trường cục bộ vượt khỏi tầm quản lý, phát sinh hiện tượng đầu cơ, buôn lậu. Bên cạnh đó, một số giải pháp kiềm chế lạm phát chưa được triển khai kiên quyết và thiếu đồng bộ. Đặc biệt, các giải pháp về quản lý thị trường và giá cả chưa toàn diện, hiệu quả thấp và chưa phù hợp với trình độ phát triển kinh tế thị trường ở VN.
Theo ông Nguyễn Đức Thắng, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại dịch vụ giá cả (Tổng cục Thống kê), giá cả nhóm hàng ăn và ăn uống tăng liên tục là nguyên nhân đẩy CPI tăng cao. Chỉ trong 6 tháng đầu năm, nhóm hàng này đã tăng 30,7% so với tháng 12-2007.
Tham khảo chỉ số giá của các nước, ông Thắng dẫn chứng tốc độ tăng CPI 6 tháng đầu năm của Trung Quốc là 8,6%, trong đó tác động giá dầu thế giới chiếm 6%, còn lại 2,6% là do yếu tố bên trong. Cũng chịu tác động 6% của giá dầu thế giới nhưng lạm phát của VN đã tăng tới hơn 20%.
“Vì sao cùng một hoàn cảnh nhưng giá tiêu dùng của VN tăng quá cao?”- ông Thắng đặt câu hỏi. Tỉ trọng nhóm tiêu dùng lương thực thực phẩm của VN hiện chiếm gần 43% trong 10 nhóm hàng hóa tính CPI. Theo các đại biểu, nếu kiểm soát được giá nhóm hàng này là nắm được công cụ điều chỉnh CPI. Tuy nhiên, nền kinh tế đang “căng như dây đàn” và mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm ở mức 25%-30% như Bộ Kế hoạch- Đầu tư dự báo không dễ đạt được.
Tăng trưởng GDP khó đạt 7%
Tại hội thảo, nhiều đại biểu cùng thống nhất quan điểm khó đạt chỉ tiêu tăng trưởng GDP 7% trong năm 2008. TS Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược (Ngân hàng Nhà nước), cho rằng giữa chính sách vĩ mô và vi mô cần có độ trễ khoảng 6 tháng. Hiện tại, chính sách vĩ mô đang tốt lên nhưng vi mô chưa ổn định. Biểu hiện là những khó khăn của cả nền kinh tế đang chuyển sang khu vực sản xuất, do các doanh nghiệp đang phải chịu gánh nặng lãi suất cao.
VN mới đang ở giai đoạn khó khăn, giai đoạn rất khó khăn sẽ diễn ra vào khoảng cuối quý III/2008, khi các yếu tố tác động lạm phát “vào” hết.
Vì vậy, tăng trưởng GDP cả năm có thể chỉ đạt 6,5% như tốc độ tăng trưởng của 6 tháng đầu năm. Đồng tình với quan điểm này, TS Vũ Đình Ánh cũng cho rằng mục tiêu tăng trưởng GDP 7% như Quốc hội đã điều chỉnh là khó đạt được song kinh tế VN chỉ gặp khó khăn trong ngắn hạn và không có nguy cơ xảy ra khủng hoảng. Nếu mọi diễn biến đều thuận lợi, tình trạng khó khăn có thể được cải thiện ngay từ cuối năm nay.
Để ổn định thị trường, Chính phủ vừa bổ sung thêm 4 mặt hàng vào danh sách các mặt hàng phải bình ổn giá thay vì 10 mặt hàng như trước đây. Theo các đại biểu, đây là biện pháp hành chính, cần thận trọng và không nên kéo dài thời gian áp dụng.
|
Duy trì lãi suất cao quá lâu sẽ phản tác dụng PGS-TS Nguyễn Thị Mùi, Phó Giám đốc Học viện Tài chính, cho rằng trong bối cảnh lạm phát đang có dấu hiệu chững lại, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét khả năng duy trì ổn định và từng bước giảm dần lãi suất cơ bản để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng, duy trì sản xuất. Việc tăng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước thời gian qua đã có tác dụng nhất định nhưng cũng gây ra tác động tiêu cực. Cụ thể là các ngân hàng phải chạy đua lãi suất, tăng chi phí hoạt động và tăng khả năng rủi ro. Khả năng cạnh tranh của cả nền kinh tế bị giảm sút do đầu tư tư nhân sụt giảm, chi phí vay mượn tăng lên. |
Bình luận (0)