Chiếc xuồng máy cập vào ngôi nhà lá mục nát liêu xiêu bên bờ kinh Lâm Thiên. Hai con chó sủa nhặng lên át tiếng kọt kẹt của những con mọt đang gặm nhấm mấy cây cột của ngôi nhà nhìn xuyên từ vách này sang vách bên kia. Người đàn ông ngồi lọ mọ vá lưới trước cửa tưởng tôi tìm nhầm nhà nên cứ chỉ đâu đâu. Tôi phải hỏi đến lần thứ ba rằng muốn tìm nhà ông Chính, em ông Mù Liêm, có người em hy sinh ở chiến trường Campuchia thì người đàn ông ấy mới gật gật đầu mời tôi vào nhà.
Tận cùng bi kịch
Trong nhà, nhìn trước thấu sau không có vật gì trị giá đến 10.000 đồng. Vài cây cột đã mục gần đứt hết chân, chênh vênh trên nền đất lạnh toát, ba cái cây chống chỏi bên ngoài là điểm tựa cho ngôi nhà khỏi sập. Cái giường tiếp khách cũng phải lấy khúc cây dừa kê giữa hai đầu gãy. Bàn thờ làm bằng một tấm gỗ mục đính trên vách, đặt di ảnh bà cụ và ba cái lư hương. Ông Chính bảo: “Hai cái lư hương lớn đặt trước di ảnh mẹ tôi là của cha mẹ tôi, còn cái lư hương nhỏ đặt trong góc là của Tư Nghĩa (Trương Văn Nghĩa - NV) em tôi. Nó đi ở đợ cho nhà ông Hai Khoa (Lưu Văn Khoa) ở Xóm Dừa (xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi) lúc 13 tuổi. Lớn lên nó đi nghĩa vụ quân sự thay cho con ông Hai Khoa rồi hy sinh tại chiến trường Campuchia. Mọi trợ cấp cho gia đình liệt sĩ đến giờ vẫn thuộc về nhà ông Hai Khoa cả. À mà, chú đi đây đi đó nhiều, nếu có gặp lại ông Mù Liêm, anh hai của tôi, thì nhắn với ông ấy giùm mẹ đã mất. Mấy năm rồi ông ấy không về nhà, không biết đã hay tin mẹ mất chưa!”.
Ngoài người anh là ông Mù Liêm đang lang thang hành khất, ông Chính còn một người thân nữa là người em út tên Trương Văn Lý. Bởi cuộc sống quá nghèo khó nên khoảng hơn một năm trước, người vợ của ông Lý đã dắt mấy đứa con bỏ ông ra đi không một lời từ biệt. Chẳng lâu sau ông Lý cũng bỏ xứ mà ra đi. Cuộc sống của gia đình có 5 miệng ăn của ông Trương Văn Chính là 6 cái lú đặt tôm, cá dưới kinh Lâm Thiên, mỗi ngày chỉ đủ tiền mua một ký gạo loại rẻ tiền nhất. Ông Chính nói: “Có 3 đứa con thì chỉ có thằng con trai nhỏ là được đi học. Dường như số phận vẫn không chịu buông tha một ai trong gia đình chịu quá nhiều khổ ải này, kể cả người thuộc về thế hệ thứ ba như chúng nó!”. Ông chỉ về người con gái 18 tuổi tên Thanh, đang ngồi tựa lưng vào góc nhà tối om nhìn chúng tôi bằng ánh mắt vô hồn, cạnh chiếc võng có đứa trẻ đang say ngủ. Ông Chính lại thở dài, nói tiếp: “Nó lớn vậy rồi mà như con nít. Hồi nhỏ hay bị động kinh chết đi sống lại nên tâm trí cũng không bình thường như người ta, bị thằng bất lương nào đó hại đẻ ra đứa bé này”. Bà Thạch Thị Thắng, vợ ông Chính, chua xót tiếp lời: “Nó nói đó là một người đàn ông đã có gia đình ở cạnh nhà. Vì đang ở đậu trên đất của người ta nên cũng đành ngậm ngùi cho qua chuyện. Con bé giờ phải mang họ Thạch của tôi!”.
Chết không chỗ chôn
Bà Do mất ở tuổi 94, cái tuổi được người đời xem là đại thượng thọ, nhưng đó là một cái chết quá đau lòng. Ông Chính còn nhớ rất rõ cái đêm trước khi bà Do lìa trần, đó là khuya 17-2-2006, bà Do giật mình thức giấc than đói. Ông Chính dậy đi nấu hai lon gạo, bà ăn hết veo. Vì ăn quá no nên bà đã bị bội thực và mất vào sáng hôm sau. “Hôm đó mới giữa tháng 2 mà trời đổ mưa. Đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng mẹ tôi ăn nhiều như vậy” - ông Chính kể, giọng nhẹ như không.
Những người cùng xóm đi xin được chiếc quan tài cũ mục để mai táng bà Do. Xong lại không biết chôn cất bà ở đâu, vì nhà ở đậu trên đất người ta, nên chủ đất không cho chôn. Chính quyền địa phương và dân cả xóm phải thuyết phục mãi người chủ đất mới miễn cưỡng cho chôn bà dưới nấm mộ con con ở sát vách nhà.
Cũng như chồng bà, ông Trương Văn Kiệm bệnh chết hồi năm 1970 mà không có đất chôn. Người ta lấy mấy thanh tre bọc xác ông và xin một khoảnh đất để ông nằm. Mộ của ông Kiệm giờ chỉ còn là nhúm đất bằng cái rổ trên bờ ao của nhà ông Lê Văn Tròn ở cùng xóm này. Tiền người ta cúng đám ma bà Do được 3,7 triệu đồng, ông Chính muốn xây mộ cho mẹ nhưng chủ đất không cho xây. Ông Chính đành đem tiền gửi hết cho người quen chờ tìm được đất để xây mộ cho mẹ vì để trong nhà sợ trộm lấy mất. Khoản tiền này đến nay ông Chính vẫn không hề chạm đến một đồng, cho dù có hôm nhà không có gạo ăn.
|
Vô vọng
Ông Chính nói có lần ông nhớ lại lời trăng trối của người mẹ trước lúc chết. Ông dành dụm được ít tiền và nhờ người viết một lá đơn xin cứu xét, rồi mang ra Bưu điện huyện Đầm Dơi gửi. Tôi hỏi ông đã gửi cho ai? Ông Chính cúi đầu một hồi rồi đáp: “Tôi cũng không biết gửi cho ai!”. |