Lao động nữ còn thiệt trăm bề

Thứ Hai, 06/10/2008 22:17

Cường độ lao động cao, môi trường làm việc không bảo đảm, dinh dưỡng kém khiến sức khỏe lao động nữ càng suy giảm, nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp rất cao

“Để bảo đảm đời sống sinh hoạt tối thiểu, chúng tôi phải làm việc quần quật suốt tuần, có hôm phải tăng ca đến kiệt sức nhưng thu nhập chỉ đạt từ 1,4 triệu đồng đến 1,6 triệu đồng/tháng”. Đó là tiếng kêu cứu của hàng trăm lao động nữ (LĐN) tại một doanh nghiệp (DN) ở quận Gò Vấp- TPHCM khi ngừng việc tập thể mới đây. Thực trạng đời sống LĐN cũng là chủ đề được Tổng LĐLĐ VN và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) “mổ xẻ” tại hội thảo “Chính sách LĐN và bình đẳng giới” vừa diễn ra tại TPHCM.

Cường độ lao động cao, môi trường độc hại

Kết quả đợt khảo sát tình hình thực hiện chính sách LĐN tại 9 DN có vốn nước ngoài ở 3 tỉnh Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây Ninh, do Tổng LĐLĐ VN tiến hành trong tháng 8-2008, cho thấy nhiều DN chưa thực hiện đúng chế độ trả lương làm thêm giờ. Với LĐN thai sản được hưởng chế độ làm việc 7 giờ/ca hưởng đủ lương, nhưng do DN trả lương sản phẩm nên chị em không được trả tiền cho thời gian làm việc được rút ngắn theo quy định (1 giờ). Bà Phạm Thị Thanh Hồng, Phó Ban Nữ công Tổng LĐLĐ VN, nhìn nhận: So với nam giới và mặt bằng sinh hoạt chung, thu nhập của LĐN còn thấp. Để có thêm thu nhập trang trải cuộc sống, 76% LĐN phải làm thêm giờ.

Ông Đỗ Minh Nghĩa, Trưởng Ban Bảo hộ lao động Tổng LĐLĐ VN, cho biết thêm: Qua kiểm tra 9 DN sử dụng nhiều LĐN tại Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây Ninh, có 4 DN không đạt yêu cầu về nhiệt độ môi trường làm việc. Nhiều DN gia công giày thể thao còn có bộ phận sử dụng keo dán hóa chất nhưng không cách ly khỏi dây chuyền may và không hút hơi cục bộ nên LĐN vẫn phải chịu ảnh hưởng hơi hóa chất. Mặt khác, do phải ngồi làm việc với thời gian dài, thao tác đơn điệu dẫn đến mệt mỏi, phát sinh các bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe LĐN. Tỉ lệ LĐN sức khỏe tốt chỉ có 23,1%.

DN chưa quan tâm

Làm việc với cường độ cao, môi trường làm việc không bảo đảm, dinh dưỡng kém khiến sức khỏe LĐN càng suy giảm, nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp rất cao. Song, điều đáng nói là DN chưa quan tâm thực hiện chính sách LĐN. Đại diện Ban Nữ công LĐLĐ tỉnh Bình Dương bức xúc: “Ở nhiều DN, nhiều chị em không được nhận hoặc nhận chế độ ốm đau, thai sản chậm trễ do bộ phận kế toán, nhân sự ở DN không gởi hồ sơ về BHXH hoặc có nơi nhận tiền từ BHXH nhưng không chi cho người lao động (NLĐ). Thậm chí, nhiều DN trích tiền lương của NLĐ nhưng không nộp cho cơ quan BHXH”.

Bà Lê Thị Mỹ Lệ, Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Đồng Nai, cho biết thêm: “Nhiều DN không tổ chức khám sức khỏe, khám bệnh nghề nghiệp cho NLĐ. Cá biệt, Công ty Dong Yang từ khi hoạt động đến nay đã trên 10 năm, nhưng chưa lần nào khám sức khỏe cho NLĐ”.

Cần một chính sách khả thi

Theo các đại biểu, Nghị định 23/CP về chính sách LĐN không còn phù hợp nên cần thay thế. Quy định mới phải quy định rõ ràng, cụ thể: Các chế độ LĐN hưởng; nội dung công việc DN sử dụng LĐN phải tổ chức thực hiện. Mặt khác, chính sách ưu đãi giảm thuế đối với DN sử dụng nhiều LĐN nên quy định tỉ lệ phần trăm (%) giảm thuế tương ứng với tỉ lệ sử dụng LĐN bình quân trong một năm tại DN. Ngoài ra, mức tiền quỹ BHXH tạm trích lại cho DN phải tính đến đặc thù của DN sử dụng nhiều LĐN nhằm kịp thời chi chế độ thai sản cho LĐN. Nhiều ý kiến đề nghị nên nâng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng thay vì 4 tháng như hiện nay.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hồng, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ VN, việc thực hiện chính sách LĐN hiện nay chưa đồng bộ, chủ yếu tập trung vào chính sách BHXH. Những chính sách khác được thực hiện rất giới hạn, tùy khả năng và điều kiện chủ quan của DN nên kết quả còn hạn chế. Tổng LĐLĐ VN đề xuất, ngoài việc hoàn thiện chính sách thì khi phê duyệt các dự án đầu tư, xây dựng các KCN-KCX, cần đồng bộ chính sách thu hút đầu tư và giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến NLĐ như nhà ở, nhà trẻ, trường học, bệnh viện...

Hơn 60% doanh nghiệp không trả phụ cấp độc hại

Kết quả khảo sát của Ban Nữ công Tổng LĐLĐ VN mới đây cho thấy có 56,2% LĐN phải tiếp xúc với tiếng ồn, rung; 55,8% tiếp xúc với nóng và 47,1% hít khói, bụi. Đáng nói là dù LĐN phải làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại như vậy, nhưng chỉ có 61,1% DN quan tâm, trang bị bảo hộ lao động cho LĐN; 60,6% DN không chi trả phụ cấp độc hại cho LĐN.

Bài và ảnh: VĨNH TÙNG
[Quay lại]