Anh Tuân, người con trai thứ tư của ông, phải cho đứa con gái chạy ra bờ ao gọi ông mãi và bảo rằng có mấy chú nhà báo muốn gặp, ông mới chịu về. Không để cho chúng tôi kịp lên tiếng nói rõ về lý do của buổi gặp gỡ hôm nay, ông nói: “Mấy anh nhà báo quân đội cũng mới tới tìm gặp tôi để viết bài nhân ngày 22-12 đấy. Các cháu cũng thế chứ gì? Hượm đã, cứ uống nước đi”.
Ở cái tuổi 86, nhưng ông vẫn khỏe, nước da hồng hào dù mái đầu đã bạc trắng. Hằng ngày, ông vẫn ra vườn cắt cỏ và phụ việc nhà cho con cháu, vui thú điền viên. Đây là lần thứ hai tôi ghé thăm ông. Lần đầu là năm 2004, khi ấy định sẽ viết bài về ông nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thế nhưng, lần ấy tôi không gặp được vì ông đã ra Cao Bằng để dự lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng Phai Khắt- Nà Ngần.
Lần ấy, tại ngôi nhà của ông - thực ra chỉ là một gian nhà xây nho nhỏ chừng 20 m2, rất lụp xụp, ẩm ướt giữa cánh đồng lúa mênh mông ở thôn 8B của thị trấn Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng - tôi được gặp vợ ông, một cụ bà phúc hậu và nhanh nhẹn. Bà đã tiếp chuyện và kể cho tôi nghe rất nhiều về cuộc đời hoạt động cách mạng của chồng mình với tất cả niềm vui, niềm tự hào.
Hai năm sau tôi trở lại, nhiều thứ đã đổi thay, gia đình ông không còn ở gian nhà chật hẹp nữa mà đã chuyển về ở trong ngôi nhà mới khang trang do Nhà nước xây tặng trị giá 50 triệu đồng. Sự cởi mở của ông Tiến Lực đã đưa câu chuyện của chúng tôi ngược dòng thời gian trở về hơn 60 năm trước.
Đường đến với cách mạng
Tô Văn Cắm sinh năm 1922 ở bản Um, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Ngày ấy, bản của ông có khoảng 70 nóc nhà, toàn là người Tày và người Dao Tiền, Dao Đỏ, mọi người đều làm lúa nước, đời sống người dân nghèo lắm. Hồi nhỏ, ông cũng như bao người con ở bản Um đều nghèo khổ, cuộc sống khó khăn nên đâu có được đi học chữ quốc ngữ, ngày phải đi chăn trâu, đêm mới đến nhà thầy học chữ nho.
Năm 1941, Bác Hồ ra Pắc Bó, Việt minh ra đời, khi ấy ông 19 tuổi. Thế là ông tham gia vào Hội Cứu quốc để đi tuyên truyền, vận động mọi người tham gia vào hội. Hồi đó, người đưa ông đến với cách mạng là anh Nông Văn Lạc. Anh Lạc tuyên truyền với ông: “Giặc Pháp áp bức, bóc lột khiến dân mình khổ lắm rồi. Bây giờ ở đây có Đảng, có Hội Cứu quốc, mình tham gia thôi, tham gia thì phải xin thề”.
Sau khi nghe anh Lạc nói, ông bảo: Tôi cũng khổ lắm rồi, chúng nó bắt dân mình nộp đủ thứ thuế, mà nếu không đóng thuế thì phải đi phu, đi lính cho nó. Vậy là tôi quyết định xin gia nhập Hội Cứu quốc, rồi vào Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân.
Kể từ đó, ông tham gia công tác thanh niên, đưa thư từ cho các cán bộ hoạt động cách mạng. Năm 1942, anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) về xã Tam Kim hoạt động. Ông Tiến Lực không thể nào quên lần đầu tiên được gặp Đại tướng. Lần ấy, anh Nông Văn Lạc dẫn ông đến gặp anh Văn ở một lán trại trong khu rừng dưới chân núi Slam Cao. Anh Văn bảo không sợ chúng nó (giặc Pháp) đâu, có chúng tôi ở đây, sẵn sàng đi chiến đấu đi. Chờ thời cơ rồi quân, dân đánh đuổi chúng nó. Rồi bà con sẽ được sống yên ổn, ấm no.
Sau lần gặp gỡ lịch sử ấy, Tiến Lực nhiều lần được gặp anh Văn. Ông nói về Đại tướng với tất cả niềm yêu mến và kính phục. Theo ông, anh Văn là người dễ gần và sống rất tình cảm. Ông hào hứng kể cho chúng tôi nghe về những đêm ngủ trong rừng cùng chung lán với anh Văn, ông được anh Văn kể và nói nhiều về cách mạng, về con đường mà nhân dân Việt Nam phải chọn là đánh đuổi thực dân Pháp. Ông bảo có nhiều lần ông ngủ chung với anh Văn, ông gác cả chân lên người anh. Có lần anh Văn cũng nói: “Ôi, Tiến Lực ngủ thế này à!” rồi ông và Đại tướng lại ôm nhau ngủ. Sau khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cho đến khi chiến thắng Điện Biên Phủ, ông không có dịp gặp lại vị tướng lẫy lừng của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Gặp lại anh Văn
Cuộc đời binh nghiệp của ông Tô Văn Cắm không dài. Sau khi cùng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân chiến đấu chiếm được đồn Phai Khắt, Nà Ngần, ông tiếp tục tham gia hoạt động vũ trang tuyên truyền ở vùng cao Nguyên Bình. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông theo đoàn quân Nam tiến vào đóng quân và chiến đấu ở Rạch Giá. Đến giữa năm 1946, trong một trận chiến đấu ác liệt, ông bị thương nặng, sau đó phải rời đơn vị và trở về quê hương. Năm 1947, Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn hòng tiêu diệt đầu não của quân ta, ông lại hăng hái xung phong tái ngũ.
Chiến dịch biên giới năm 1950, ông là trung đội trưởng pháo binh. Trong trận đánh đồn Đông Khê, một lần nữa ông bị thương nặng ở vai. Vết thương lần này đã làm ông phải chia tay con đường binh nghiệp.
Tôi hỏi ông: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến nay, ông có được gặp lại tướng Giáp không? Và thế là đôi mắt của người lính già nhìn về phía xa xăm để hồi tưởng: Có một lần, đó là vào trung tuần tháng 7-2000, Đại tướng đi thăm các cơ quan quân sự ở miền Nam, dừng chân ở Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và khi được biết đồng chí Tiến Lực đang sống cùng con cháu ở Lâm Đồng, Đại tướng mong được gặp.
Thế là cuộc hội ngộ sau hơn nửa thế kỷ giữa vị tướng già và người chiến sĩ trẻ năm xưa nay cũng đã ở ngoài cái tuổi “thất thập cổ lai hy” làm xúc động những người chứng kiến. Ông kể chuyện gặp anh Văn: Sau giây phút vui mừng gặp lại nhau không nói nên lời, Đại tướng đã hỏi tôi bằng tiếng Tày: “Sau khi rời quân ngũ, Tiến Lực làm gì? Cuộc sống hiện nay ra sao?”. Tôi đã chảy nước mắt vì vui mừng, bởi sau 56 năm mới gặp lại, Đại tướng vẫn nhớ bí danh của tôi và nói tiếng Tày như ngày trước.
Khi biết đồng chí Tiến Lực giải ngũ trở về làm nông dân bình thường, vì nhà nghèo nên con cái không được học hành đến nơi đến chốn, tuy nhiên, vẫn chăm chỉ làm ăn, là những công dân tốt, Đại tướng căn dặn: “Làm gì cũng cao quý, miễn là phải chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước. Làm nghề nông cũng cần có kiến thức để sản xuất tốt, cho thu nhập cao. Đồng chí là chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đã ra quân đánh thắng giặc Pháp. Vì vậy dù ở đâu, làm gì, Tiến Lực cũng nên giữ vững truyền thống anh hùng của quê hương, của anh bộ đội Cụ Hồ”. Tôi trân trọng hứa với anh Văn những điều anh căn dặn...
Ông Cắm bảo rằng cuộc đời như dòng chảy, thấm thoắt vậy mà đã hai phần ba thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày ông được kết nạp vào đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Trong 34 chiến sĩ, có người đi trọn con đường binh nghiệp, đã là những vị tướng lẫy lừng, cũng có người nay đã thành người thiên cổ. 34 chiến sĩ năm xưa, nay người còn, người mất nhưng những ký ức về một thuở hào hùng, oanh liệt vẫn chẳng thể phai nhòa trong tâm trí những người lính già như ông.