Ở thời kỳ đỉnh điểm của sự bùng nổ Internet vào cuối thập niên 90, các nhà tuyển dụng thường thu hút nhân tài tin học bằng nhiều bổng lộc. Theo Gabby Silberman, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu T. J. Watson của hãng IBM, thời gian này, “một sinh viên chưa tốt nghiệp đã được ít nhất 3 công ty mời và gần đến thời điểm quyết định thì có thể nhận được đến 10 lời mời”. Thế nhưng, khi nhiều công ty kinh doanh rơi vào tình trạng lỗ hay phá sản, nhiều sinh viên Mỹ đã quay lưng với ngành khoa học máy tính. Tương tự như Đại học California, số đơn đăng ký vào ngành khoa học máy tính tại Đại học Carnegie Mellon, bang Pennsylvania, trong năm học tới cũng giảm 36% so với năm 2001; Đại học Virginia Tech giảm 40% kể từ năm 2001. Ngay cả Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) nổi tiếng với ngành khoa học máy tính, số sinh viên năm I chuyên ngành điện - điện tử và máy tính cũng giảm 20% so với năm 2001 và 2002. Tuy nhiên, không vì số lượng đầu vào giảm mà các trường nới lỏng các điều kiện trúng tuyển. Theo nhiều giáo viên, số sinh viên theo học ngành khoa học máy tính hiện nay thật sự yêu thích ngành nghề này chứ không phải vì ước mơ trở thành triệu phú như những năm trước. Do đó, cho dù số lượng sinh viên có giảm nhưng chất lượng giảng dạy lại tăng lên.
Lo lắng trước xu hướng sụt giảm không ngừng nói trên, những công ty máy tính như IBM và Intel đang nỗ lực mở rộng các chương trình khám phá tiềm năng máy tính, như Intel đã đầu tư 700 triệu USD để đào tạo trẻ em từ mẫu giáo đến trung học. J. Strother Moore, trưởng khoa máy tính của Đại học Texas, cũng lo lắng trước việc thiếu hụt các nhà khoa học máy tính trong tương lai: “Khi nền kinh tế hồi phục thì nhu cầu đối với lập trình viên máy tính sẽ cao hơn số sinh viên đang được đào tạo”. Dù vậy, trước mắt, cơ hội tìm kiếm việc làm trong lĩnh vực máy tính vẫn chưa có gì sáng sủa. Chẳng hạn như năm 2000, Intel tuyển dụng 2.378 sinh viên nhưng đến năm ngoái thì chỉ còn 566.
Bình luận (0)