Nghị quyết 20-NQ/T.Ư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Tiếp tục xây dựng giai cấp CN thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH

Thứ Tư, 00:56  20/02/2008

Xây dựng giai cấp công nhân (CN) nước ta lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi người CN và của toàn xã hội.

LTS: Ngày 28-1, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã ký ban hành Nghị quyết số 20-NQ/T.Ư “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”. Đây là nghị quyết có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công cuộc đổi mới và sự nghiệp cách mạng của đất nước; khẳng định vai trò, những đóng góp to lớn của đội ngũ CNVC- LĐ vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước cũng như một số hạn chế yếu kém cần khắc phục. Nghị quyết nêu rõ quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Kể từ số báo này, Báo Người Lao Động trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn nghị quyết

Xây dựng giai cấp công nhân (CN) nước ta lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi người CN và của toàn xã hội.

Giai cấp CN VN là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.

Giai cấp CN nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản VN; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp CN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

I- Tình hình giai cấp CN VN trong những năm đổi mới

Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với quá trình CNH-HĐH đất nước, giai cấp CN nước ta đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa đạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận CN trí thức; đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản VN, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; có nhiều cố gắng để phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp CN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp CN đã đóng góp trực tiếp, to lớn vào quá trình phát triển của đất nước, cùng với các giai cấp, tầng lớp và thành phần xã hội khác, giai cấp CN nước ta là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước.

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc làm và đời sống của giai cấp CN ngày càng được cải thiện.

Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp CN chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, CN lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần CN từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống.

Một bộ phận CN chậm thích nghi với cơ chế thị trường. Địa vị chính trị của giai cấp CN chưa thể hiện đầy đủ. Giai cấp CN còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp CN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của CN không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế. Tỉ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ CN còn thấp. Một bộ phận CN chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội. Nhìn tổng quát, lợi ích một bộ phận CN được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và những đóng góp của chính mình; việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của CN đang có nhiều khó khăn, bức xúc, đặc biệt là ở bộ phận CN lao động giản đơn tại các doanh nghiệp của tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Tình hình trên bắt nguồn từ các nguyên nhân: Quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triển của giai cấp CN; tuy nhiên những hạn chế, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, đời sống và tư tưởng, tình cảm của CN. Đảng có chú trọng xây dựng giai cấp CN; nhưng quan tâm chưa đầy đủ, chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của giai cấp CN trong thời kỳ mới. Nhà nước ban hành nhiều chính sách, pháp luật xây dựng giai cấp CN; nhưng những chính sách, pháp luật này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Công đoàn (CĐ) và các tổ chức chính trị - xã hội khác có nhiều đóng góp tích cực vào việc xây dựng giai cấp CN; nhưng hiệu quả chưa cao, còn nhiều yếu kém. Bản thân giai cấp CN đã có nhiều nỗ lực vươn lên; nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Các doanh nghiệp và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế đóng góp tích cực vào tạo việc làm và thu nhập cho CN; nhưng không ít trường hợp còn vi phạm chính sách, pháp luật đối với người lao động.

II- Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng giai cấp CN thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước

A- Quan điểm chỉ đạo trong xây dựng giai cấp CN

1- Kiên định quan điểm giai cấp CN là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản VN; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp CN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự lớn mạnh của giai cấp CN là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, CNH-HĐH đất nước.

2- Xây dựng giai cấp CN lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức mạnh của liên minh giai cấp CN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực chủ yếu của sự phát triển đất nước, đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp CN trên toàn thế giới.

3- Chiến lược xây dựng giai cấp CN lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, CNH-HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và chăm lo xây dựng giai cấp CN; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa CN, người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của CN, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp CN.

4- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho CN, không ngừng trí thức hóa giai cấp CN là một nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt quan tâm xây dựng thế hệ CN trẻ có học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, trở thành bộ phận nòng cốt của giai cấp CN.

5- Xây dựng giai cấp CN lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vuơn lên của bản thân mỗi người CN, sự tham gia đóng góp tích cực của người sử dụng lao động; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, CĐ có vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm lo xây dựng giai cấp CN. Xây dựng giai cấp CN lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng tổ chức CĐ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong giai cấp CN vững mạnh.

B- Mục tiêu xây dựng giai cấp CN

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, mục tiêu xây dựng giai cấp CN đến năm 2020 là:

Xây dựng giai cấp CN lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản VN.

Nói chung, trong các doanh nghiệp đều có tổ chức cơ sở đảng, CĐ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên VN.

Xây dựng giai cấp CN lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; ngày càng được trí thức hóa: có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao.

Từ nay đến hết năm 2010 phải phấn đấu quyết liệt để đạt được sự chuyển biến tối đa về các mặt sau đây:

1- Hình thành và triển khai thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp CN lớn mạnh gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, CNH-HĐH đất nước.

2- Giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp CN, tạo được chuyển biến thật sự mạnh mẽ và rõ rệt trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của CN (về nhà ở tại các KCN, tiền lương và thu nhập, bảo hiểm xã hội, nơi sinh hoạt văn hóa, cơ sở nuôi dạy trẻ...) tương xứng với những thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và những đóng góp của giai cấp CN. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong các loại hình doanh nghiệp.

3- Có bước tiến về đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển đất nước, nhất là những ngành công nghiệp mới. Tăng nhanh tỉ lệ lao động qua đào tạo; chú trọng đào tạo nghề cho CN từ nông dân và nữ CN.

4- Nâng cao hơn về giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, hiểu biết pháp luật, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, xây dựng lối sống lành mạnh trong CN, nhất là CN trẻ.

5- Tăng tỉ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ CN. Tăng số lượng và chất lượng cơ sở Đảng trong các loại hình doanh nghiệp; sớm thành lập tổ chức cơ sở Đảng ở những doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ Đảng; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Đảng tại doanh nghiệp phù hợp với từng thành phần kinh tế.

6- Đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức CĐ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên VN trong các loại hình doanh nghiệp. Củng cố, đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đã có; sớm thành lập tổ chức cơ sở tại các doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và điều lệ của các tổ chức đó; tăng số lượng và chất lượng của các tổ chức cơ sở này tại các loại hình doanh nghiệp, nhất là ở những doanh nghiệp có đông CN.

C- Nhiệm vụ và giải pháp xây dựng giai cấp CN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước

1- Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp CN trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Ðổi mới tổ chức, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp CN, hướng vào giải đáp những vấn đề thực tiễn đặt ra: về xu hướng phát triển của giai cấp CN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước; về vấn đề trí thức hóa giai cấp CN; về CN tham gia sở hữu DN; về mối quan hệ giữa giai cấp CN với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, đặc biệt là trong liên minh giai cấp CN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; về sự phân hóa và mối quan hệ trong nội bộ giai cấp CN; về vai trò lãnh đạo của giai cấp CN thông qua đội tiền phong là Ðảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới; về tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội trong các DN; về vai trò làm chủ của giai cấp CN, quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động; về mối quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa giai cấp CN Việt Nam và giai cấp CN các nước trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; về những âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" và tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch đối với giai cấp CN;... Qua đó cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp CN phát triển toàn diện trong thời kỳ mới.

2- Ðẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hóa giai cấp CN.

Ðẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho CN, đặc biệt là CN trẻ, CN từ nông dân, CN nữ, nhằm phát triển về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, để nước ta có một đội ngũ CN có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng những nhà kinh doanh có tài, có đức, các nhà quản lý giỏi và các cán bộ khoa học - kỹ thuật xuất thân từ CN có trình độ cao, có khả năng tiếp cận với công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại trong nền kinh tế thị trường, hội nhập. Quy hoạch nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và CN có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp mới, hiện đại.

Chú trọng đào tạo đội ngũ CN trong các dân tộc thiểu số, ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Chú trọng đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề. Có chính sách để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các cơ sở đào tạo nghề với phương tiện kỹ thuật hiện đại. Có chính sách khuyến khích liên kết các cơ sở đào tạo nghề và các DN trong đào tạo, đào tạo lại.

Trước mắt, cần tập trung bổ sung, sửa đổi, xây dựng một số chính sách lớn sau đây:

- Xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách hướng nghiệp ở cấp học phổ thông để giúp cho thanh niên, học sinh định hướng đúng đắn việc chọn nghề và hiểu rõ được ý nghĩa của việc gia nhập đội ngũ CN; tạo điều kiện phát triển đội ngũ CN trẻ có trình độ cao, chuyển một bộ phận lớn nông dân thành CN.

- Nhà nước xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển dạy nghề một cách đồng bộ, đổi mới hệ thống dạy nghề đáp ứng yêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế nhằm đảm bảo sự cân đối ngay trong hệ thống giáo dục - đào tạo, giữa hệ thống giáo dục - đào tạo với phát triển kinh tế, giữa đào tạo và sử dụng, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về dạy nghề. Làm tốt công tác dự báo nhu cầu lao động theo ngành nghề, cấp trình độ.

- Ban hành chính sách khuyến khích mạnh mẽ hơn đối với hoạt động đào tạo nghề, thu hút mạnh hơn các thành phần kinh tế tích cực tham gia vào lĩnh vực đào tạo nghề, bao gồm cả ở trình độ cao: Từng bước thực hiện đổi mới chi ngân sách cho dạy nghề theo cơ chế đặt hàng, đấu thầu đối với các cơ sở dạy nghề của các thành phần kinh tế; đồng thời thực hiện tốt hơn cơ chế kiểm định, đánh giá chất lượng dạy nghề.

- Bổ sung, sửa đổi, xây dựng chính sách đào tạo, đào tạo lại CN; có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho CN tự học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ. Xây dựng, hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo nghề, gắn đào tạo lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành, gắn đào tạo nghề với giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về giai cấp CN và với rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động. Ðưa vào chương trình đào tạo nghề nội dung học tập pháp luật lao động, Luật CĐ, Luật DN,...

- Ðiều chỉnh, bổ sung, quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề gắn với các ngành, các chương trình, dự án lớn, các vùng kinh tế trọng điểm. Ngân sách Nhà nước đầu tư tập trung vào dạy nghề cho lao động nông thôn, các vùng miền núi, dân tộc thiểu số và những ngành nghề đặc thù mà các đơn vị ngoài công lập không đầu tư; Nhà nước làm nòng cốt, đồng thời có chính sách để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng trường chuẩn, theo chương trình chuẩn, để đào tạo CN có trình độ cao cho một số ngành kinh tế mũi nhọn, yêu cầu kỹ thuật, công nghệ hiện đại.

Chú trọng đào tạo đồng bộ, cả ở trong và ngoài nước, đội ngũ giáo viên dạy nghề, cán bộ quản lý và những CN có trình độ cao, để đáp ứng yêu cầu nhân lực của nền kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp mới, hiện đại. Củng cố và mở rộng các trường đào tạo giáo viên dạy nghề theo khu vực trên phạm vi cả nước.

- Khuyến khích các DN thuộc mọi thành phần kinh tế hằng năm dành kinh phí thích đáng và thời gian cho đào tạo, đào tạo lại CN; được tính vào giá trị đầu tư và hạch toán vào chi phí sản xuất của DN.

- Tăng cường đào tạo đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để đảm bảo có đủ điều kiện về tay nghề, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động; quy hoạch và phát triển đa dạng các hình thức, các thành phần kinh tế tham gia đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài.

3- Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp CN

Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Ðảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh, tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, lương tâm nghề nghiệp,... cho CN.

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và hoạt động của tổ chức CĐ, Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đối với công tác tuyên truyền, giáo dục trong CN; đảm bảo định hướng thống nhất nội dung và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.

Nhà nước đầu tư và có chính sách ưu đãi, khuyến khích các DN đầu tư (được tính vào giá trị đầu tư và hạch toán vào chi phí sản xuất) xây dựng và hoạt động của các nhà văn hóa lao động, nhà văn hóa thanh niên, câu lạc bộ CN, hệ thống truyền thông đại chúng, nơi sinh hoạt của tổ chức đảng, tổ chức CĐ, thanh niên, phụ nữ ở các khu công nghiệp tập trung.

4- Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CN; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho CN.

Rà soát, bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm và đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao thể chất cho CN; tập trung trước hết vào những chính sách liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc đang đặt ra về việc làm và đời sống của CN.

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát huy các nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của CN trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho CN tương xứng với năng suất lao động và những đóng góp của CN. Nhà nước có chính sách đầu tư cho các tỉnh, thành phố để xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng cho CN.

Ðề cao trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc chăm lo lợi ích, đời sống vật chất, tinh thần cho CN; tính tự giác của người sử dụng lao động và của CN trong thực hiện chính sách, pháp luật. Ðồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Nhà nước, tổ chức CĐ và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong DN; có chế tài xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân vi phạm.

- Ban hành chính sách khuyến khích các doanh nghiệp (DN) và các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng nhà ở cho CN, nhất là tại các khu công nghiệp, trên cơ sở quy hoạch của Nhà nước. Quy định phát triển khu công nghiệp phải đi liền với phát triển khu đô thị mới và các công trình phúc lợi công cộng, trong đó có khu nhà ở cho CN. Có chính sách về nhà ở cho CN thuê hoặc mua trả dần phù hợp với thu nhập thực tế của CN. Nhà nước đầu tư xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng phục vụ lâu dài cho CN diện thu nhập thấp; các DN đầu tư xây dựng nhà ở cho CN được tính vào giá trị đầu tư và hạch toán vào chi phí sản xuất.

- Ban hành quy định pháp luật về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các DN của tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài; tăng cường cơ chế đối thoại, thương lượng giữa người sử dụng lao động và người lao động. Quy định rõ quyền, trách nhiệm của người sử dụng lao động và CN trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.

- Có chính sách tôn vinh thích đáng những người lao động giỏi, cả lao động chân tay và trí óc, có nhiều cống hiến cho sự phát triển của DN và xã hội; bổ sung chính sách về thi đua và khen thưởng trong các DN thuộc mọi thành phần kinh tế.

- Sớm hoàn thiện chính sách bán cổ phần cho CN khi cổ phần hóa DN nhà nước, để CN phát huy quyền làm chủ, gắn bó lâu dài với DN. Nghiên cứu chính sách khuyến khích DN của tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài bán cổ phần cho CN.

- Tổ chức thực hiện tốt pháp luật lao động; đổi mới, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về lao động trong các DN.

Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, chủ DN, CĐ để giải quyết tranh chấp lao động và xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về quan hệ lao động để giải quyết vấn đề tranh chấp lao động.

Thực hiện đúng trách nhiệm của các cấp chính quyền ở địa phương theo luật định đối với các cuộc đình công của CN trên địa bàn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật lao động.

Bổ sung các chế tài xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm chính sách, pháp luật lao động. Có biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động khi làm việc ở nước ngoài.

5- Tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy vai trò của tổ chức CĐ và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng giai cấp CN

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong xây dựng giai cấp CN.

Khẩn trương xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược về giai cấp CN gắn với chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm các chủ trương, chính sách lớn về đào tạo, trí thức hóa CN; về chuyển một bộ phận lớn lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; về vấn đề xuất khẩu lao động, kể cả ở các DN Việt Nam đầu tư kinh doanh ở nước ngoài; vấn đề tạo nguồn để phát triển đảng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong quản lý sản xuất kinh doanh xuất thân từ CN; vấn đề nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của CN...

Phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Ðảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước để giai cấp CN là nòng cốt, cùng với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, tăng cường liên minh CN - nông dân - trí thức, thực sự là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng giai cấp CN và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tăng cường lãnh đạo Nhà nước trong xây dựng và thực thi các chính sách, pháp luật để xây dựng giai cấp CN lớn mạnh; giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của giai cấp CN.

Chú ý hơn nữa công tác bồi dưỡng, phát triển đảng trong CN. Có cơ chế, chính sách đẩy mạnh việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng những cán bộ ưu tú xuất thân từ CN, nhất là CN trực tiếp sản xuất, tăng dần tỷ lệ cán bộ xuất thân từ CN trong bộ máy lãnh đạo các cấp của Ðảng, Nhà nước, CĐ và các tổ chức chính trị - xã hội khác. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo cơ hội phát triển cho những cán bộ CĐ trẻ, cán bộ thanh niên có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức tốt xuất thân từ CN.

Lãnh đạo Ðảng và Nhà nước các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của CN và công đoàn, tôn trọng và phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của tổ chức CĐ. Chú trọng lãnh đạo, tạo điều kiện để CĐ phát huy tốt vị trí, vai trò của mình.

Tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Ðảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong các DN.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và chỉ đạo thực hiện kiên quyết; bổ sung quy định chế tài cụ thể, đủ mạnh trong các luật để thực hiện nghiêm việc thành lập, hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và các tổ chức chính trị - xã hội tại các DN thuộc mọi thành phần kinh tế; đồng thời coi trọng tuyên truyền, vận động, thuyết phục, khuyến khích các chủ DN của tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài đồng tình, ủng hộ, tạo điều kiện để tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội thành lập, hoạt động thuận lợi.

Ðẩy mạnh bồi dưỡng phát triển đảng trong các trường phổ thông, trường đại học, cao đẳng, các trường đào tạo nghề và trong CN, chú trọng phát triển đảng ở những DN không có hoặc còn ít đảng viên để tạo nguồn thành lập tổ chức cơ sở đảng trong phần lớn các DN.

Có chính sách động viên về vật chất, khuyến khích về tinh thần đối với đội ngũ cán bộ đảng ở DN. Ðẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, nhiệt tình, tâm huyết và kỹ năng công tác cho cán bộ đảng ở DN, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, góp phần xây dựng giai cấp CN lớn mạnh, xây dựng DN thịnh vượng.

Có nhiều hình thức tăng cường và phát triển đảng viên tại các DN của tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài, làm nòng cốt xây dựng tổ chức cơ sở đảng, CĐ, Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

- Xây dựng tổ chức CĐ lớn mạnh, phát huy vai trò của CĐ trong xây dựng giai cấp CN.

Ðổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức CĐ các cấp. Nghiên cứu việc quy định cơ cấu đại diện CĐ vào thường vụ cấp ủy ở những nơi có nhiều khu công nghiệp, đông CN.

Các cấp CĐ cần hướng mạnh hoạt động về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy CN, viên chức, lao động làm đối tượng vận động, lấy chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CN, viên chức, người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội làm mục tiêu hoạt động.

CĐ cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa cho CN; tập hợp trí tuệ của CN để tham gia xây dựng, bổ sung, sửa đổi và thực hiện chính sách, pháp luật.

Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ CĐ cơ sở, nhất là chủ tịch CĐ cơ sở ở DN của tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài, về trình độ chính trị, hiểu biết chính sách, pháp luật lao động và kỹ năng công tác.

Sớm sửa đổi, bổ sung Luật CĐ để phù hợp, tương thích với các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Luật DN và các văn bản pháp luật có liên quan; xác định rõ vị trí, chức năng, quyền và cơ chế đảm bảo để CĐ thực hiện tốt chức năng trong thời kỳ mới. Việc thu kinh phí CĐ tại DN thuộc các thành phần kinh tế thực hiện theo quy định của Luật CĐ và của Chính phủ; sử dụng cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, sinh hoạt văn hóa, thi đua, khen thưởng, phúc lợi xã hội và các hoạt động khác của CN tại chính DN đó, kể cả việc trả lương hoặc phụ cấp lương cho cán bộ CĐ tại DN.

Ðổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ CĐ. Củng cố, nâng cao chất lượng dạy và học của Trường đại học Công đoàn, Trường đại học Tôn Ðức Thắng.

Tăng cường và mở rộng quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp CN và CĐ các nước trên toàn thế giới.

Ðổi mới mạnh mẽ tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức CĐ tại các DN.

Không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của CĐ cơ sở, để CĐ thật sự là chỗ dựa vững chắc của CN tại DN thuộc mọi thành phần kinh tế, có sức hấp dẫn đối với người lao động và tạo được sự đồng tình, ủng hộ của người sử dụng lao động.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để nâng cao hiệu quả công tác nữ công của CĐtại các DN và khu công nghiệp.

Sớm bổ sung cơ chế, chính sách bảo vệ cán bộ CĐ cơ sở và chế độ phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ CĐ cơ sở.

- Ðổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong các DN.

Ðổi mới nội dung và phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong các DN nhà nước. Ðổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng hóa các loại hình, hình thức tập hợp, vận động thanh niên làm việc trong các DN của tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài tham gia hoạt động Ðoàn và Hội.

Hoạt động Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong các DN cần tập trung vào việc tạo điều kiện, không ngừng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, cổ vũ và khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong thanh niên CN; thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng để phối hợp với tổ chức CĐ bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích, tư vấn, hỗ trợ về mặt pháp lý và bảo vệ thanh niên CN khi quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng bị xâm phạm.

III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Ðảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ rà soát hệ thống pháp luật và các văn bản liên quan đến quyền, nghĩa vụ của CN, điều kiện hoạt động của tổ chức CĐ và các tổ chức chính trị - xã hội khác tại DN để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với Nghị quyết này.

2- Các ban của Ðảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy quán triệt, tuyên truyền và có chương trình hành động cụ thể, đảm bảo Nghị quyết đi vào cuộc sống.

3- Ban Dân vận Trung ương và Ðảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam làm đầu mối cùng các ban của Ðảng, các tổ chức đảng, theo chức năng, nhiệm vụ, giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết và báo cáo định kỳ với Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

 
[Quay lại]