Huyền thoại Bồng Lai tự

Tin mới

03/02/2014 08:59

Nằm trên độ cao khoảng 350m và tựa lưng vào vách núi, Bồng Lai tự (ấp Tô Trung, xã Núi Tô) trở thành “danh lam thắng cảnh” độc đáo ở núi Cô Tô. Trong những năm chiến tranh, nơi đây từng là “cơ sở nuôi quân” khá vững chắc của du kích và bộ đội huyện Tri Tôn, vừa là “trạm giao liên” đáng tin cậy của cán bộ tỉnh An Giang thời bấy giờ.

Bà chủ chùa gan dạ

Bồng Lai tự được xây dựng khoảng 1945, chênh lệch với thời gian hình thành chùa Vân Long (di tích lịch sử-cách mạng tại vồ Mồ Côi, núi Cô Tô) không xa. Hồi ấy, ngôi chùa cất bằng cây và lợp lá, do vị thầy quê quán từ ngọn Mặc Cần Dưng (xã Bình Hòa, huyện Châu Thành) lên đây dựng lên và ở trông coi nhang khói.

Bà Trần Thị Luận (thương binh ¾, ngụ trên núi Cô Tô) kể, mặc dù mưa bom đạn pháo dữ dội và bị giặc đốt phá nhiều lần, nhưng ngôi chùa vẫn được sửa chữa và giữ gìn bàn thờ Tam Bảo tôn nghiêm. “Thầy mười Khối là chủ chùa đời thứ hai, thứ ba… gì đó. Rồi, ông bệnh qua đời, mới tới bà bảy Ân quê ở Châu Thành đứng ra trông coi. Suốt thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, một mình bà lo trong, lo ngoài Bồng Lai tự” – bà Luận nhớ lại.

Huyền thoại Bồng Lai tự

Nguyễn Văn Mộng tìm được củ ngải tượng hiếm thấy trên núi Cô Tô.

Thời kỳ đánh nhau ác liệt, nói tới vách Suối Vàng (núi Cô Tô) thì từ người dân đến du kích, bộ đội, cán bộ… đều sợ. Vậy mà, bà bảy Ân “một mình” bám trụ ngôi chùa, vững chãi với sự khốc liệt ở chốn non cao! Nhắc lại kỷ niệm xưa, ông Đặng Văn Xuân (thương binh ¾, xã Núi Tô)  còn nhớ cảnh Bồng Lai tự và hình ảnh bà bảy Ân như vừa mới gặp.  

“Tôi không nằm chung… đường dây này, nhưng biết Bồng Lai tự là hậu phương… tại mặt trận vách Suối Vàng. Do đây là chỗ anh em mình liên lạc, đôi khi nghỉ tạm chờ chuyển tiếp, sau những trận đánh nhừ tử thì mọi người  lại tụ họp về chùa…” – ông Xuân trầm tư. Bấy giờ, núi Cô Tô đâu có mấy ngôi chùa, hễ “mốc nối” được là quý lắm, vừa có chỗ nơi ẩn núp, vừa đảm bảo cho quá trình tích trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men và hậu cần các thứ.

Đại tá Lê Thành Cư – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (cán bộ hưu trí xã An Tức) cho hay, trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước, mỗi khi nhắc tới  Bồng Lai tự (núi Cô Tô) thì hầu hết cán bộ đều biết, nhất là Huyện ủy Tri Tôn lại càng quen thuộc. Bởi, vị thế ngôi chùa độc đáo ở chỗ, mặt tiền ngó về đồng bằng, còn sau hậu lại tựa lưng vào vách núi. Nhờ vậy, tầm quan sát địa hình rất rộng, cơ sở hoạt động thuận lợi và tương đối an toàn.

“Thời kỳ đó, Bồng Lai tự được tổ chức đánh giá rất cao, xem như một cơ sở bán công khai. Anh em khắp nơi cứ tụ họp về đây, cơm nước có một tay bà bảy Ân lo hết” – Đại tá Lê Thành Cư nói. Ai cũng quý mến bà, Nhà nước ghi nhận công lao bà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tấm Huy chương hạng nhất và Huân chương hạng nhì.

Lá rụng … về cội

Bà bảy Ân (Lê Thị Ân) qua đời cách nay trên 20 năm, Bồng Lai tự vẫn được người đời tôn kính như thuở nào, thu hút người hành hương và du khách từ khắp nơi viếng núi Cô Tô. Nhiều chuyện kể về bà giống hệt huyền thoại ở chốn non cao.

Bà Lê Thị Út (vợ  liệt sĩ Nguyễn Văn Liêm, hy sinh năm 1964) hiện ngụ chợ Bình Hòa (Châu Thành) hồi tưởng: “Nhờ bà bảy Ân, mà ba đứa con của tui còn sống nguyện vẹn đến giờ này. Trong đó, thằng thứ tư là Nguyễn Văn Mộng bị lính Mỹ bắt, rồi đưa đi cô nhi viện ở Cù Lao Giêng cho đến 30-4-1975 mới được đoàn tụ”. Sự việc xảy ra lâu lắm, nhưng đối với bà không bao giờ nén được vết thương lòng!

Trùng tu Bồng Lai tự.

Trùng tu Bồng Lai tự.

Đó là đầu mùa mưa 1960, vào một sáng tinh sương, Nguyễn Văn Liêm và Lê Thị Út từ lò ảng bò ra và gởi 3 đứa con cho bà bảy Ân. Vợ chồng tức tốc lội qua Ô Lâm gánh gạo, muối về phục vụ bộ đội huyện Bảy Núi. Khi nắng lên chưa ráo ngọn cỏ, bọn lính từ Xà Tón đột ngột đổ bộ lên càn quét, đốt phá Bồng Lai tự hòng tìm ra… tên Việt cộng Nguyễn Văn Liêm.

Trước tình thế nguy ngập, bà bảy Ân chỉ kịp bồng hai đứa lớn chui vào lò ảng thoát thân, bỏ lại Nguyễn Văn Mộng (mới biết đi chập chững) và cứ tưởng sẽ… không đến nỗi! Nào ngờ, sau mấy tiếng đồng hồ lùng sục, bọn lính ẵm thằng bé về luôn chợ Xà Tón.  “Tới nửa đêm, vợ chồng mới dám về chùa và biết được thằng Mộng bị lính bắt. Tui với ổng đâu dám ra mặt nhìn con. Bấm bụng chịu đựng!” – bà Út nói mà như đang khóc. Một ngày, hai ngày, rồi lại đến ngày thứ ba chẳng thấy ai đến nhìn con, bọn chúng liền đưa Nguyễn Văn Mộng về dòng tu Chúa Quan Phòng (Cù Lao Giêng)”.

Bà Trần Thị Luận (thương binh ¾, ngụ trên núi Cô Tô) cho biết, hồi đó ở chợ Xà Tón này có bà mụ Hứa có người em đi tu bên Cù Lao Giêng, thấy vậy chòm xóm xúm nhau nói tiếp và nhờ… tìm lại đứa bé. Thương tình, bà ấy nhận lời và chỉ được sang nhìn lén, tìm cách “bấm tai” làm dấu. Năm tháng trôi qua, Nguyễn Văn Mộng đi khắp các dòng tu ở Sài Gòn, Long Thành, Vũng Tàu và ra tận Đà Nẵng.

“Ngày 30-4-1975 sắp cận kề, thằng Mộng cũng chuẩn bị xuống tàu sang Mỹ. Một lần nữa, bà mụ Hứa ở chợ Xà Tón lại giúp đưa nó trở về với tui…” - bà Út xúc động. Do chiến tranh khiến tuổi thơ Nguyễn Văn Mộng lưu lạc, khi lớn lên lại bồng bềnh theo con nước lớn ròng, rốt cuộc rồi cũng “trụ hình” bên cạnh Bồng Lai tự, cùng vợ mua bán nhỏ và canh tác cả chục công vườn rừng. Tết này, Nguyễn Văn Mộng được 55 tuổi, cuộc đời anh lắm gian truân giống như huyền thoại Bồng Lai tự trên đỉnh núi Cô Tô.

“Bấy giờ, núi Cô Tô đâu có mấy ngôi chùa, hễ “mốc nối” được là quý lắm, vừa có chỗ nơi ẩn núp, vừa đảm bảo cho quá trình tích trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men và hậu cần các thứ” – ông Đặng Văn Xuân, thương binh ¾, cán bộ hưu trí xã Núi Tô nói .   

 

Theo TRỌNG ÂN (An Giang Online)
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 
Hoặc nhập thông tin của bạn

Mới nhất Hay nhất