Nỗi ám ảnh từ cục máu đông

Tin mới

26/03/2015 20:51

Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu tăng cao ở người béo phì, có tiền sử nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim ứ huyết...

Huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) là một bệnh tim mạch thường gặp, đứng vào hàng thứ ba trong các bệnh tim mạch. Bệnh thường gặp ở người lớn tuổi và gây ra những trường hợp đột tử mà phần lớn nạn nhân không biết do thuyên tắc động mạch phổi.

Các yếu tố nguy cơ

Khi một huyết khối nhỏ (cục máu đông) hình thành ở tĩnh mạch sâu, nó sẽ gây ra phản ứng viêm và kích thích tạo thêm các huyết khối mới. Nguy cơ hình thành HKTMS tăng lên khi lưu lượng máu giảm hoặc ứ trệ tuần hoàn ở tĩnh mạch chi dưới. Điều này thường xảy ra khi bệnh nhân không thể cử động được trong một thời gian dài. Máu càng ứ đọng trong tĩnh mạch, huyết khối càng dễ hình thành. Các yếu tố nguy cơ của HKTMS gồm:

- Người từ 70 tuổi trở lên.

- Ung thư đang trong thời kỳ hoạt động hoặc đang điều trị được 6 tháng.

- Phẫu thuật hoặc chấn thương vùng chậu hay chi dưới.

- Phẫu thuật cần gây mê kéo dài trên 5 giờ.

- Du lịch gần 2.000 km trong 12 tuần trước đó.

- Điều trị bằng estrogen/progesterone.

- Nằm liệt giường trên 3 ngày hoặc phẫu thuật trong vòng 4 tuần trước đó.

- Đa số trường hợp HKTMS thường xảy ra trên những bệnh nhân trải qua phẫu thuật, đau ốm, được điều trị nội trú.

- Nguy cơ HKTMS tăng cao ở người béo phì, có tiền sử nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim ứ huyết, có thai, cho con bú, sử dụng thuốc ngừa thai hoặc bị viêm loét đại tràng.

 

Biện pháp phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu tốt nhất hiện nay là tăng cường tập thể dục Ảnh: Hoàng Triều
Biện pháp phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu tốt nhất hiện nay là tăng cường tập thể dục Ảnh: Hoàng Triều

 

Diễn biến phức tạp

Thường khoảng 60% bệnh nhân có cục máu đông kéo dài mà không làm nghẹt lòng tĩnh mạch. Những bệnh nhân này có thể bị thuyên tắc phổi dẫn đến tử vong mà không có dấu hiệu hay triệu chứng tại vị trí khởi phát. Thay vào đó, thường có những yếu tố khác xuất hiện như sốc, nhiễm trùng, chấn thương, suy tim xung huyết; già, béo phì, có thai, bệnh ác tính… Ở 40% bệnh nhân còn lại thì huyết khối làm nghẹt lòng tĩnh mạch, gây đau chi và phù nề…

Hiện nay, người ta thấy những trường hợp thuyên tắc phổi nặng thường xuất phát từ phần tĩnh mạch gần của chi dưới. Thuyên tắc phổi trên lâm sàng nặng hay nhẹ tùy thuộc kích thước của huyết khối và tình trạng tim, phổi của bệnh nhân.

Phần lớn bệnh nhân có HKTMS đều phải nhập viện điều trị. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể điều trị tại nhà với sự chăm sóc của nhân viên y tế với một số điều kiện như: huyết khối nhỏ, triệu chứng ít, có thể đi bộ được, không có bệnh khác, không khó thở và không nghi ngờ thuyên tắc phổi...

Phòng ngừa HKTMS

Biến chứng quan trọng của HKTMS là thuyên tắc động mạch phổi, đó là một tình trạng tắc của động mạch phổi hay một trong các nhánh của nó do các cục máu đông xuất phát từ HKTMS. Nguy cơ thuyên tắc phổi gia tăng trong nhiều trường hợp như ung thư và nằm bất động kéo dài.

Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 100.000-200.000 trường hợp tử vong do thuyên tắc phổi và chỉ có 30% được chẩn đoán trước khi tử vong, số còn lại chỉ được phát hiện sau khi xét nghiệm tử thi. Các triệu chứng của thuyên tắc phổi bao gồm khó thở, đau ngực khi hít vào, ho ra máu và đánh trống ngực. Các trường hợp thuyên tắc phổi nặng có thể dẫn đến hôn mê, choáng và ngưng tim đột ngột.

Biện pháp phòng ngừa HKTMS tốt nhất hiện nay là tăng cường tập thể dục bằng cách đi bộ, phát hiện sớm những trường hợp có HKTMS để điều trị, vận động sớm sau phẫu thuật, sử dụng vớ y khoa (nhất là khi đi máy bay lâu trên 4 giờ) cho những người có yếu tố nguy cơ, sử dụng thuốc kháng đông khi có chỉ định của thầy thuốc...

 

Hai phương pháp điều trị

Điều trị kháng đông đầy đủ là liệu pháp chính trong bệnh HKTMS, bắt đầu bằng thuốc Heparin và sau đó là dẫn xuất coumarine để chống tái phát huyết khối. Một phương pháp khác là điều trị tiêu sợi huyết, nghĩa là làm tiêu cục huyết khối và duy trì chức năng các van tĩnh mạch.

Người ta làm một số thử nghiệm để so sánh cách điều trị tiêu sợi huyết và điều trị kháng đông tiêu chuẩn thì thấy rằng huyết khối mất hoàn toàn ở 45% bệnh nhân được điều trị với tác nhân tiêu sợi huyết, trong khi chỉ loại trừ được huyết khối ở 4% bệnh nhân dùng Heparin.

Trong trường hợp không sử dụng được thuốc kháng đông hoặc dùng kháng đông thất bại thì cần đến các phương pháp điều trị xâm lấn hơn, đó là phẫu thuật lấy huyết khối hay đặt lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới.

 

PGS-TS Nguyễn Hoài Nam
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 
Hoặc nhập thông tin của bạn

Mới nhất Hay nhất