“Phong bì” và quyền của bệnh nhân

Tin mới

23/02/2013 21:21

Thông thường, những dịp kỷ niệm ngành nghề, người ta thường ôn lại những thành tựu chuyên môn qua nghiên cứu khoa học và đóng góp cho cộng đồng. Thế nhưng, ngày Thầy thuốc Việt Nam (27-2) lại là ngày người ta suy nghĩ nhiều nhất về vấn đề rất cơ bản: Y đức

Hai vấn đề liên quan đến y đức mà công chúng đang quan tâm hiện nay là vấn nạn “phong bì” và quyền của bệnh nhân. 

“Phong bì”, quà và hối lộ

Đưa “phong bì” cho nhân viên y tế là đề tài gây nhiều tranh cãi. Có người cho rằng nạn phong bì chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh” nhưng trong thực tế thì không phải chỉ là vài con sâu mà rất phổ biến đến nỗi người ta xem đó là điều bình thường. Theo một nghiên cứu tại TPHCM mới công bố năm qua, có đến 76% bệnh nhân được hỏi cho biết đã từng đưa phong bì cho nhân viên y tế. Một nghiên cứu trước đó ở Hà Nội cũng cho thấy khoảng 70% bệnh nhân đưa phong bì.
 
Ở nước ngoài, bệnh nhân cho quà bác sĩ (BS) cũng khá phổ biến. Trong một cuộc điều tra ngẫu nhiên trên 378 BS ở Anh, có đến 20% cho biết họ từng nhận quà từ bệnh nhân trước đó 3 tháng. Giá trị trung bình của món quà là 15 USD. Quà thông thường nhất là rượu, kế đến là chocolate và tiền mặt.

Tặng BS một món quà nhỏ, thậm chí tiền, có vi phạm y đức hay không còn tùy thuộc vào động cơ của bệnh nhân và người nhận. Cho quà để cám ơn có lẽ không có vấn đề y đức nhưng cho quà với động cơ tác động đến nhân viên y tế để được đặc lợi là một hình thức hối lộ và BS nhận quà trong trường hợp này là tham nhũng, thể hiện sự vi phạm đạo đức nghề nghiệp. BS có nghĩa vụ phải trung thành với bệnh nhân. Làm lời từ việc điều trị bệnh nhân là một cách vi phạm lòng trung thành đó. Nhận quà cũng làm xói mòn mối liên hệ đặc biệt mang tính đạo lý giữa BS và bệnh nhân.

Thật vậy, trong nghiên cứu vừa đề cập trên, khi được hỏi tại sao đưa phong bì, 65% bệnh nhân cho biết vì muốn được ưu tiên, được giải quyết nhanh hơn và trong trường hợp y tá, bệnh nhân tin rằng đưa tiền là một cách mua được sự nhẹ nhàng trong tiêm chích thuốc! 

 
Minh họa: KHỀU
 
Ảnh hưởng đến kinh tế

Nhưng ngay cả người giàu có cũng không mặn mà với hệ thống y tế hiện nay. Số liệu báo cáo trong một hội thảo gần đây cho thấy mỗi năm có đến 40.000 người ra nước ngoài điều trị và họ đã phải chi khoảng 2 tỉ USD (40.000 tỉ đồng) ở nước ngoài. Đó là số tiền rất lớn. Giới chức y tế trong nước khẳng định rằng các bệnh viện Việt Nam có đủ thiết bị và bác sĩ thừa trình độ chuyên môn để điều trị mà bệnh nhân không cần ra nước ngoài. Thế nhưng, bất chấp những thành tựu tuyệt vời đó, bệnh nhân có điều kiện kinh tế vẫn tìm cách ra nước ngoài điều trị.

Khi được hỏi lý do ra nước ngoài điều trị, những bệnh nhân này cho biết họ thấy bác sĩ ngoại quốc tốt hơn về nhân cách so với BS Việt Nam, những người mà họ nghĩ rằng có vấn đề về y đức. Ngoài ra, các bệnh nhân giàu có này còn nói rằng họ không ấn tượng với môi trường bệnh viện Việt Nam (dơ bẩn, chật chội, nguy hiểm) và thích môi trường bệnh viện sạch sẽ ở nước ngoài. Nói cách khác, họ sẵn sàng chi thêm tiền chưa chắc để mua kỹ năng nhưng để mua thái độ và y đức, để được đối xử tốt hơn và để mua môi trường sạch sẽ. Có thể nói rằng vấn đề y đức đã ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam.

Tình trạng còn nghiêm trọng hơn vì vấn nạn phong bì không hẳn chỉ do bệnh nhân “làm hư” BS mà chính do BS chủ động. Năm 2011, kết quả khảo sát trên 6.000 độc giả của báo điện tử Dân Trí cho thấy có gần 3/4 bệnh nhân đưa phong bì do BS hoặc y tá gợi ý.

Vấn đề hệ thống

Những sự thật trên đây có thể là chứng cứ cho thấy nhân viên vi phạm y đức là xuất phát từ khiếm khuyết của hệ thống y tế. Tuy có nhiều yếu tố dẫn đến vi phạm y đức nhưng trong tình huống Việt Nam, 2 yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thái độ phục vụ của nhân viên y tế chưa đạt là vấn đề quá tải bệnh viện và lương bổng.

Việt Nam hiện có khoảng 1.200 bệnh viện với khoảng 185.000 giường bệnh. Trong số này, bệnh viện tuyến huyện chiếm đa số (gần 50%) nhưng số giường bệnh tuyến huyện chỉ chiếm 31% tổng số. Gần 1/3 bệnh viện là tuyến tỉnh nhưng số giường bệnh chiếm 50% tổng số. Tuy chỉ có 39 bệnh viện cấp trung ương (chiếm 3% tổng số bệnh viện) nhưng số giường của các bệnh viện này chiếm 11% tổng số giường bệnh toàn quốc. Những con số trên đây cho thấy hệ thống điều trị chủ yếu tập trung vào một số bệnh viện cấp trung ương và tỉnh, trong khi đó cấp cơ sở (huyện) thì thấp.

Do đó, không ngạc nhiên khi thấy tất cả bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh đều quá tải. Những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy và Bạch Mai, số bệnh nhân lúc nào cũng cao hơn số giường từ 50% - 70%. Riêng Bệnh viện K, số bệnh nhân cao hơn số giường gấp 2,5 lần! Ngay cả các bệnh viện tuyến tỉnh cũng quá tải 15%. Xu hướng này càng ngày càng gia tăng chứ không giảm.

Trong điều kiện quá tải như thế, thời gian tiếp xúc giữa nhân viên y tế và bệnh nhân rất ngắn. Tuy chưa có nghiên cứu nghiêm chỉnh nhưng thời gian BS tư vấn cho bệnh nhân chỉ khoảng 2-5 phút. Có không ít trường hợp BS chẳng cần nói hay khám bệnh nhân mà chỉ nhìn và ra toa thuốc. Cần nói thêm rằng nghiên cứu ở nước ngoài (châu Âu và châu Úc) cho thấy thời gian BS tiếp xúc bệnh nhân là khoảng 10 phút cho mỗi bệnh nhân (dao động trong khoảng 3 - 30 phút).  Thời gian tiếp xúc bệnh nhân có liên quan đến chất lượng phục vụ. Do vậy, không ngạc nhiên khi chất lượng phục vụ y tế ở Việt Nam chưa tốt. Trong môi trường mà BS phải khám cho cả trăm bệnh nhân với đủ loại bệnh và đủ thành phần thì rất khó đòi hỏi sự bình tĩnh của người thầy thuốc. Một BS tóm lược rằng ở các bệnh viện quá tải, BS chỉ có thì giờ điều trị bệnh, chứ không thể nào có thì giờ chữa trị người bệnh.  Đó cũng chính là lý do người bệnh cảm thấy BS Việt Nam vô cảm và… khó ưa.

Bệnh viện tuyến huyện nói chung không có quá tải, một số thậm chí còn được sử dụng dưới công suất. Vấn đề chính ở đây là bệnh nhân không tin vào BS cấp huyện. Trong cái nhìn của phần lớn bệnh nhân, BS tuyến huyện không có kỹ năng và kinh nghiệm cao như BS cấp trung ương hay cấp tỉnh. Tuy chưa có nghiên cứu nào cho thấy niềm tin này là đúng nhưng những tai biến y khoa xảy ra gần đây ở một số bệnh viện tuyến huyện đã minh chứng điều đó.

Về phía bệnh nhân, trong môi trường quá tải và đông đúc, họ phải tìm cách để được ưu tiên. Cho quà và tiền để gây ảnh hưởng là thiết thực nhất. Gây ảnh hưởng ở đây bao gồm được ưu tiên điều trị (không xếp hàng), được hưởng đặc lợi (như nằm phòng đặc biệt)... Về phía BS, họ cũng có động cơ nhận tiền, vì đồng lương quá thấp. Họ là những học sinh tinh hoa nhất, học hành lâu nhất và gian nan nhất (so với các ngành khác) nhưng khi tốt nghiệp, họ hưởng đồng lương chỉ khoảng 100-150 USD/tháng, tức không khác mấy với lương của một công nhân. Trong bối cảnh đó, cám dỗ của đồng tiền rất lớn mà không phải ai cũng có khả năng đề kháng. Dĩ nhiên, đồng lương thấp và quá tải không phải là một biện minh cho vi phạm y đức nhưng đó là môi trường làm cho người ta vi phạm.

Y đức không phải luật pháp mà là quy ước. Nhưng đó là chuẩn mực đạo đức và điều lệ về hành nghề, được các thành viên trong ngành chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Y đức, do đó là một luật luân lý về hành vi của con người liên quan đến những gì được xem là tốt và đúng, so với những gì được xem là xấu và sai. Để xác định được một hành động hay quyết định là tốt hay xấu, người quyết định phải so sánh những lựa chọn của họ với những tiêu chuẩn mà xã hội chấp nhận. Nếu trong một xã hội mà mọi người (hay đa số) chấp nhận việc hối lộ cho nhân viên y tế là một hành vi bình thường thì đó cũng chính là một tín hiệu cho thấy đạo đức xã hội đang xuống cấp và mất niềm tin giữa người với người.
 
Y đức
 
Y đức hay đạo đức nghề y có lẽ chẳng xa lạ gì với người Việt và các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo.  Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác), một danh y của Việt Nam thời giữa và cuối thế kỷ XVIII, từng nói đến những điều ông gọi là “Y huấn cách ngôn”, có thể hiểu và xem như là những điều lệ về y đức ngày nay. Trong “Y huấn cách ngôn”, ông dạy người thầy thuốc phải: Am hiểu đạo Nho, không được phân biệt bệnh nhân giàu hay nghèo, cẩn thận với khám phụ nữ, lấy việc giúp người là chính chứ không màng đến phú quý giàu sang, nên đặc biệt quan tâm đến bệnh nhân nghèo, phải khiêm tốn và tôn trọng đồng nghiệp.
Một điều quan trọng là ông khuyên: “Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ”.
 

Hải Thượng Lãn Ông từng liệt kê ra một danh sách các vấn đề y đức mà ông cho là “tội”, trong đó có các tội như: hống hách, lười biếng, chẩn đoán qua loa và tội dốt. Theo ông, y sĩ mà thiếu đạo đức thì chẳng khác gì “bọn cướp”.

 

NGUYỄN VĂN TUẤN
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 
Hoặc nhập thông tin của bạn

Mới nhất Hay nhất