tiếng việt tinh túy

“Yên hùng” dính gì “yêng hùng”, “anh hùng”?

Tin mới

13/12/2014 22:53

Vừa rồi, trước trận Việt Nam đá với Mã Lai, người ta bàn nhau đừng đổ ra đường kẻo gặp phải bọn “yên hùng” thì mang họa. Vậy “yên hùng” liên quan gì tới “yêng hùng”, “anh hùng”?

Ở Nam Bộ, nhất là trước kia, người ta thường nói “bộ hiềng”, thay vì “bộ hành” để chỉ khách đi đường, như đã được ghi nhận trong Từ điển từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín và Từ điển phương ngữ Nam Bộ do Nguyễn Văn Ái chủ biên. Các ví dụ khác: “Kiểng” trong “cá kiểng”, “cây kiểng”, “chim kiểng”… là điệp thức của “cảnh” trong “cá cảnh”, “cây cảnh”… Chữ “thiềng” trong “kiền thiềng” chính là “thành” [誠] trong “thành tâm”, “thành ý”... Chữ “thành” [城] trong “thành thị” xưa cũng đọc là “thiềng”, như đã ghi nhận trong Dictionarium AnamiticoLatinum (Tự vị Annam Latinh, 1772-73) của Pierre Pigneaux de Béhaine, Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức. “Miểng” trong “miểng chai” chính là điệp thức của “mảnh” trong “mảnh chai”, “mảnh bom”, “mảnh giấy”, rồi của cả “manh” trong “(buồn ngủ gặp) chiếu manh”, đặc biệt là của “miếng” trong “miếng cơm”, “miếng nước”, “miếng thịt”…, cuối cùng là của “mánh” trong “mánh khóe”.

“Mánh” chính cống là một từ của tiếng Việt và vì là điệp thức của “miếng” nên đương nhiên vốn cũng có nghĩa là “miếng”. Cần biết rằng vùng Nghệ Tĩnh trước đây là cái nôi của tiếng Việt cổ. Tại đây, “mạnh” là “miệng” còn “mánh” là “miếng”, như đã được ghi nhận trong Từ điển tiếng địa phương Nghệ - Tĩnh do Nguyễn Nhã Bản chủ biên (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999) và Từ điển tiếng Nghệ của Trần Hữu Thung - Thái Kim Đỉnh (NXB Nghệ An, 1997).

Vậy, với những dẫn chứng trên, ta có thể tin rằng “yêng” là điệp thức của “anh” trong “anh hùng”. Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên giảng “yêng hùng” là “[khẩu ngữ, ít dùng] anh hùng [nói trại với dụng ý châm biếm, giễu cợt]”. Thực ra, đây không phải là vì dụng ý châm biếm, giễu cợt mà nói trại đi, vì trong lịch sử của nó, chữ “anh” trong “anh hùng” đã từng có thời mang vần IÊNG (YÊNG) và có giá trị trung hòa như “yếng”, “hiềng”, “kiểng”, “thiềng”, “miểng” trong các thí dụ trên đây. Huống chi, riêng nó còn có thể là do tệ kiêng húy mà phải biến đổi từ “anh” thành “yêng”. Về sau, khi việc kiêng húy đối với “yêng” không còn hiệu lực nữa và hai tiếng “anh hùng” đã trở nên thông dụng mà “yêng hùng” vẫn chưa “chết” đi thì mới xảy ra một sự phân công: “anh hùng” thì có sắc thái trung hòa còn “yêng hùng” thì mới mang hàm ý châm biếm, giễu cợt.

Mà “yêng” trong “yêng hùng” gần âm với “yên” trong “yên xe” nên người miền Nam mượn “yên” (xe) gắn vô “yêng” (hùng). Với cách chơi chữ bằng kiểu biến âm này, “yên hùng” hàm chỉ các “quái xế” ngồi hoặc nằm trên xe máy phóng bạt mạng nhằm chứng tỏ ta đây “anh hùng”…

AN CHI
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 
Hoặc nhập thông tin của bạn

Mới nhất Hay nhất