Người vợ liệt sĩ 40 năm viết nhật ký chờ chồng

Tin mới

03/05/2012 00:00

Họ lấy nhau bằng sự “láu cá” của anh bộ đội nhưng cuộc hôn nhân ấy ngập tràn tiếng cười dù tổng cộng chỉ có vẻn vẹn 80 ngày gần nhau. Và kể cả khi chiến tranh cướp mất ông thì bà vẫn lặng lẽ chờ đợi với những cuốn nhật ký viết cho chồng.

Gần 40 năm qua, nỗi nhớ thương và khổ đau đều được bà Tính tâm sự với chồng qua những trang nhật ký

Câu chuyện tình yêu của anh lính trốn nhà đi bộ đội và cô chủ tịch xã
Chúng tôi tìm đến căn nhà nhỏ của bà Hà Thị Tính (SN 1937, trú tại phường Trường Thi, Tp Vinh, Nghệ An) vào một ngày cuối tháng tư. Căn nhà nhỏ được ngăn ra một bên là quán ăn nhỏ của đứa cháu ngoại, phòng kế bên là thế giới riêng của bà. Nhưng ít khi bà có mặt ở phòng bởi gần như suốt ngày bà chìm đắm trong thế giới của những tiếng mõ tụng kinh và những lời răn dạy của Phật. Bà bảo bà tìm được sự yên bình trong từng câu kinh sau những biến cố lớn của cuộc đời.

Chúng tôi gợi về chuyện cũ, bà cười nhưng nụ cười pha lẫn chút gì đó chua xót và đau đớn. Tự nhiên chúng tôi thấy mình tàn nhẫn quá, gợi lại quá khứ của người vợ liệt sĩ đã phải gánh chịu quá nhiều nỗi đau. Nhưng rồi ký ức về câu chuyện tình yêu của cô chủ tịch xã và anh lính trốn nhà đi bộ đội cứ thế hiện lên qua lời kể chầm chậm của bà.
Tuy ở cùng một xã nhưng cô gái xinh đẹp Hà Thị Tính không hề biết đến chàng trai Trần Văn Minh (SN 1930) bởi chênh lệch tuổi tác giữa hai người không đủ gần để chơi với nhau. Tính chỉ biết đến anh Minh “bên kia sông” khi câu chuyện anh khai tăng tuổi để đi lính trở thành đề tài “nóng” của bà con trong xã. Năm đó, anh Minh mới 16 tuổi, đang là học sinh lớp 10 trường huyện.


Chỉ có 80 ngày làm vợ đúng nghĩa nhưng bà hạnh phúc với tình yêu của mình

Một lần đi học về, thấy bà cụ hàng xóm ngồi khóc bên thềm, chàng trai trẻ chạy vào hỏi thăm. Thì ra đứa con trai độc nhất của bà nhận được lệnh đi lính, dù anh con trai quyết tâm lên đường nhưng vì anh là con trai độc nhất nên bà không nỡ để con đi. Biết chuyện, anh Minh chạy ra xã, khai gian thêm tuổi xung phong nhập ngũ rồi về nhà xin mẹ ít gạo để “trọ học trên huyện một tuần”.

Ngày thanh niên cả xã nô nức lên đường, cậu bé Trần Văn Minh cũng hãnh diện đứng trong hàng quân. Khi đoàn quân ra khỏi Xuân An hơn 10 cây số thì bà mẹ anh mới biết chuyện thông qua một người hàng xóm. Biết con đi vì nước, bà không cản mà bảo đứa con trai lớn đạp xe theo để “đưa thêm cho hắn ít quần áo”. Trần Văn Minh bước vào đời quân ngũ như thế. Anh lính trẻ dăm ba năm mới về thăm nhà một lần, lần nào bà mẹ cũng gặng hỏi “có ai chưa” nhưng anh chỉ cười.

Năm 1957, khi mới 20 tuổi, cô Hà Thị Tính được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Ủy ban hành chính xã Xuân An (Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Đó là nữ Chủ tịch xã trẻ nhất Hà Tĩnh thời bấy giờ. Họ gặp nhau cũng hết sức tình cờ. “Bữa đó anh Minh (bà vẫn gọi chồng mình là anh) lên xã làm một số giấy tờ thủ tục trong đợt nghỉ phép. Giấy tờ thì tôi giải quyết xong lâu rồi mà cứ thấy anh ấy ngồi đó mãi, thấy lạ nhưng tôi không tiện hỏi. Ba ngày sau, mẹ tôi thông báo: chuẩn bị lấy chồng vì mẹ đã nhận cau trầu người ta. Hóa ra anh Minh đã nhờ Bí thư Đảng ủy xã mang trầu cau đến gặp mẹ. Đã là “ý kiến” của Đảng ủy thì tôi chối răng được”, bà cười hóm hỉnh, đôi mắt già nua như sáng lên khi hồi tưởng về câu chuyện tình yêu của mình. Nhờ người mang trầu cau đến nhà cô Tính xong thì anh Minh trở về đơn vị. Chưa yên tâm, anh cử ngay một chiến sĩ trẻ về dò la xem cô Tính đã có ai chưa.

Đến tháng 10/1957, hai người họ chính thức làm đám cưới trong sự chúc phúc của mọi người. Ấy thế nhưng đêm tân hôn, cô dâu trốn biệt ngoài sân không chịu vào nhà. “Nhà người lạ, tôi không dám vào ngủ. Mà anh ấy cũng ở lỳ trong nhà, nhất quyết không chịu ra xem vợ thế nào. Tôi đứng ngoài sân đến khi trời mờ sáng lên đường xuống huyện đi họp. 3 ngày sau trở về thì anh Minh đã lên đường trở về đơn vị. Phải đến nửa năm sau chúng tôi mới trở thành vợ chồng đúng nghĩa. 9 tháng sau con bé Loan ra đời”, bà nhớ lại.

Nhiệm vụ của một Chính ủy Lữ đoàn 316 khiến ông đi biền biệt, cả quãng thời gian 10 năm làm vợ, bà chỉ có vẻn vẹn 80 ngày được ở gần chồng. Xa cách bởi bom đạn chiến tranh khốc liệt nhưng tình yêu của họ được nhen nhóm và hâm nóng bằng những lá thư ông viết vội giữa chiến trường, lá thư ấy luôn được bắt đầu bằng dòng chữ “em duy nhất của anh”. Chỉ cần chừng ấy thôi, đủ biết tình yêu của ông dành cho bà nhiều đến nhường nào. Chừng đó cũng khiến bà có thêm động lực để vượt lên khó khăn của cuộc sống những ngày bom đạn khốc liệt, chăm sóc mẹ chồng và 3 đứa con dại, để bà có thêm nghị lực giành giật sự sống cho đứa con trai độc nhất bị nhiễm chất độc da cam từ bố.

Năm 1967, cuộc chiến tranh ngày càng khốc liệt, ông được cử tham gia nhiệm vụ bí mật ở mặt trận Lào - Thái. Và ông đã mãi mãi không trở về…

Và những cuốn nhật ký chờ chồng
Một ngày mùa thu của năm 1967, bà nhận được giấy báo tử của chồng, lúc đó đứa con gái đầu mới được 7 tuổi, thằng con thứ 3 tật nguyền thì mới lên 2. Tim thắt lại nhưng bà tự trấn an mình: “Anh ấy đi nhiệm vụ đặc biệt, chỉ có tổ chức biết thôi vậy thì tại sao lại có giấy báo tử được. Chắc đây là kế hoạch của tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ khác quan trọng hơn”.

Ai nói gì bà cũng bỏ ngoài tai và đinh ninh với giả thiết của mình. Thế nhưng người đàn bà với vỏ bọc mạnh mẽ ấy đã khóc thầm bao nhiêu đêm. Những đêm dài vò võ, sau khi cho con đi ngủ, bà trở dậy trút hết nỗi lòng nhớ mong của mình vào những trang nhật ký viết cho chồng. Những trang nhật ký đã úa màu và nhòe nhoẹt bởi mỗi dòng chữ đều thấm đẫm nước mắt của người vợ, những dòng chữ xiêu vẹo bởi nỗi đau chất chứa quá lớn.


Những trang nhật ký bà Tính viết cho chồng đã úa màu thời gian nhưng thấm đẫm tình yêu và cả sự xót xa, đau đớn vô bờ

“…Trời mùa đông miền Trung buồn da diết làm em rối hết cả ruột gan. Anh đi rồi, căn nhà trở nên rộng quá. Mẹ con em ép sát vào tường, con bảo, giường nằm ngoài dành chỗ cho bố… Biết bao giờ đánh thắng giặc Mỹ, đến bao giờ anh mới trở về với mẹ con em”. Bà cứ chờ đợi ông trở về với niềm tin như thế cho đến năm 1984, bà tình cờ gặp lại người đồng đội cũ của chồng. Người đàn ông ấy đã nắm lấy tay bà mà khóc “Anh Minh đi thật rồi, chị cố gắng thay anh ấy dạy dỗ các cháu”.

Gần 20 năm chờ đợi, đến bây giờ bà mới chịu tin sự thật đau đớn ấy. Người phụ nữ ấy bắt đầu hành trình tìm kiếm hài cốt của chồng. Gửi con cho người thân, bà mang ba lô lên đường, lần theo địa chỉ của những đồng đội, lặn lội dọc dòng sông Mê Kông trầm vỹ để xác thực nỗi đau vô bờ. Rồi bà cũng tìm được ông, dẫu đau đớn tột cùng nhưng cuối cùng ông đã về bên bà và các con sau hàng chục năm trời cách biệt.

Dẫu thế, bà không thể bỏ thói quen viết nhật ký cho chồng. “Viết cho anh ấy tôi như trút bỏ được những buồn phiền, khổ đau trong cuộc sống. Cứ lúc nào tưởng chừng mình sắp gục ngã, những lúc nào tôi thấy mình yếu đuối bởi những va vấp trong cuộc sống tôi lại trút cõi lòng mình vào đó, cứ như thể anh Minh đang lắng nghe, đang san sẻ khổ đau với tôi”, bà chia sẻ.

Thế nhưng, xen lẫn với những nhớ thương có một chút gì đó là nỗi cô đơn khắc khoải, một chút trách móc dỗi hờn: “Cuộc đời anh, tuy thương vợ, thương con nhưng vợ con chỉ có một phần bé nhỏ trong trái tim anh. Anh đã từng nói với em: “Trong chiến đấu, trước mắt anh là nhân dân và kẻ thù”. Như vậy, cuộc đời anh, anh trọn vẹn với nhân dân, còn em và con anh bỏ lại”…. “Anh đi anh im lặng! Để lại cho cuộc đời 4 mẹ con em đầy đắng cay và đau khổ. Năm 1965, Sơn ốm em phải đưa con đi Bệnh viện B Hà Nội, trong lúc lương anh không có, tổ chức cho em nghỉ việc không lương để chạy chữa cho con… Thế là mẹ con em sống giữa Hà Nội bằng không khí, không tiền! Không gạo! Không quần áo!”.


Bao nhiêu năm qua, bà sống với tình yêu cháy bỏng và thầm lặng với người chồng liệt sĩ của mình


Đó còn là nỗi cô đơn tủi phận khi đêm giao thừa, trong thời khắc gia đình sum họp bà chỉ vò võ bên bàn thờ chồng và đứa con tật nguyền. Bà lại trút tất cả nỗi niềm đó vào trang giấy. Một mình bà tần tảo nuôi con khôn lớn, hai đứa con gái trưởng thành, xây dựng gia đình, cứ mỗi bước đi của con đều được bà “báo cáo” đầy đủ với chồng. Trong những cuốn nhật ký ố màu thời gian đó, có những trang bà dán kín. Đó là những tâm sự thầm kín của người vợ dành cho chồng, “Chỉ khi nào bà nhắm mắt xuôi tay, các con mới được mở ra”, bà dặn các con như thế.

Gần 40 năm qua, viết bao nhiêu cuốn nhật ký rồi, bà cũng không còn nhớ nữa. Nỗi đau của một góa phụ cứ như đè nặng lên tâm can bà, nhưng bà có đau nỗi đau của riêng mình đâu. Bà khổ tâm bởi một lẽ, đứa con trai độc nhất của bà ngày ngày phải chịu đau đớn bởi di chứng chất độc da cam từ bố. Những lúc bất lực trước bệnh tật của con, bà lại tìm sự an ủi trong những trang nhật ký viết cho chồng. “Mỗi lần cho con ăn em lại khóc. Em còn sống, em thay anh chăm sóc Sơn, em chết đi, ai chăm sóc con?... Đã hơn 30 năm rồi nhưng có những đêm em không thể nào chợp mắt được”.

Bà cứ sống với nỗi đau đớn đó cho đến cuối năm 2011, anh Sơn ra đi mãi mãi sau gần 40 năm chống chọi với bệnh tật. Từ đó bà không còn viết nhật ký nữa mà sống tĩnh tâm với triết lý nhà Phật. Bà tìm niềm vui trong cõi niết bàn và hưởng phúc từ sự hiếu thảo của 2 cô con gái và 6 đứa cháu, chắt của mình.
Ở cái tuổi gần đất xa trời, có lẽ không còn nỗi đau nào có thể chạm tới bà nữa…

Theo Dân Trí
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 

Hoặc nhập thông tin của bạn

Mới nhất Hay nhất