Bức tranh Bát Mã
Sau đợt gió chướng hồi năm ngoái, cha tôi bỗng yếu đi.
Trong một buổi chiều đang cầm cọ vẽ thì ông đột nhiên trúng gió ngã quỵ, cọ màu văng tứ tung quẹt lên đất thành những hình thù như vết của một cơn vó ngựa ngang qua.
Điều trị suốt hơn nửa năm, cha có phần đỡ hơn, nhưng thần trí có phần khi nhớ, khi quên. Bác sĩ dặn, về nhà cho ông tiếp xúc người thân thường xuyên, nhất là những người ông gần gũi, quý mến. Kể chuyện, ôn lại cho ông, thì biết đâu ông dần tỉnh táo hơn. Cả nhà cố sức lo, mời cả cô Út - em gái của cha - ở quê ra chăm sóc, nhắc chuyện đời xưa cho cha nghe nhưng cũng không mấy khá hơn. Trí nhớ của cha như con ngựa tuột cương, lúc đứng yên đứng mãi, lúc chạy đi thì mất hút... Nhưng mỗi khi nhắc đến câu chuyện về bức tranh bát mã, thì dường như "con ngựa" đứng sững lại, giậm chân lộc cộc lên ký ức làm cho cha rướn cổ, nói từng chữ lục cà lục cục. Cô Út lắng tai nghe hồi lâu, ráp lại thành câu rằng, "tranh tui vẽ như vậy mà người ta chê, mấy chục năm không thấy quay lại nhận...".

* * *
Cha tôi là một nghệ nhân tranh kiếng nổi tiếng bậc nhất của làng, nhưng ông lại không phải là hậu duệ của ông tổ nghề tranh kiếng. Hồi còn khỏe khoắn, cha hay kể rằng, sáu bảy chục năm về trước, cả làng chỉ có chừng bốn năm gia đình làm thợ. Họ theo nghề cha truyền con nối. Tranh kiếng chủ yếu bán cho dân địa phương, đắt hàng nhất vẫn là cánh người Hoa và dân mới ra lập nghiệp ở miệt Thứ. Hồi ấy tranh bán được giá, có khi hơn cả chỉ vàng một bộ. Tuy nhiên không phải ai theo nghề cũng vẽ được, đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì và tập trung cao độ cùng đôi mắt thẩm mỹ mới làm ra tranh được. Có lần cha nói vui, hồi nhỏ do "làm biếng", không siêng đi cắt lúa, trồng rẫy mà muốn ngồi một chỗ vừa có miếng ăn vừa vui thú cầm - kỳ - thi - họa. Bởi vậy cha chọn theo nghề vẽ tranh kiếng. Vậy là từ hồi mười ba mười bốn tuổi, cha đã đi học lóm nghề làm tranh của các gia đình thợ trong xóm. Mỗi nhà có cách làm độc đáo riêng, cha học lóm được cả xóm nên tay nghề được nâng cao bởi sự tích hợp nhiều bí quyết.
Năm cha hai mươi sáu tuổi, tôi mới biết nói bi bô, thì làng lục đục có trận chiến. Cha đang vẽ thuê dang dở mấy bộ tranh, đành phải đem cất giấu rồi xuống ghe đưa mẹ con tôi đi tản cư. Nhìn quanh xuồng, ngoài gạo mắm thì hành trang mang theo của gia đình tôi chẳng có gì quan trọng hơn mấy lọ màu và vài ba cây cọ lông thú của cha. Xuôi theo sông, hễ nghe đâu có trận thì né đi chỗ khác, đến khi gạo trong khạp dự trữ đã gần cạn thì ghe đã trôi đến tận miệt Thứ.
Tá túc hết bến sông này đến bến sông khác, ở nhờ nhà người này rồi lại dời sang nhà người kia, những lúc rảnh rỗi, nỗi nhớ nghề trong cha lại cồn cào. Ông kiếm được một tấm kiếng tủ nhỏ bể, cắt gọn lại cho vuông vắn. Bày mấy lọ màu ra trước mũi ghe, cha lặng lẽ đưa từng nét cọ lên mặt kính. Thuở ấy, trong nhà mà có được một bức tranh treo lên đã là bảnh, nên chẳng bao lâu người ta bắt đầu để ý, rồi tìm đến nhờ cha tôi vẽ tranh kiếng để làm đẹp nhà, đẹp cửa. Cha tôi nhẩm tính giá bằng cách quy ra bằng với tiền mua nguyên liệu và tiền ăn cho cả nhà tôi trong mấy ngày cha vẽ tranh. Bà con thấy vậy nên thương, thường sẽ trả tiền thêm hay dúi cho bọc gạo, ký khô. Cứ thế, nghề vẽ tranh kiếng dần dần không chỉ lo được miếng cơm manh áo của gia đình tôi, mà còn âm thầm gồng gánh cả gia đình qua những năm tháng long đong.
Mỗi lần ngồi nhắc chuyện cũ lại cho cha nghe, mẹ thường kể, đợt xuôi xuống miệt Thứ tản cư, vào một đêm đầu tháng chạp, khi con nước đứng và gió sông thổi lạnh hơn thường lệ, tôi bỗng lên cơn sốt dữ. Cơn sốt đến bất ngờ, làm thân hình nhỏ xíu của tôi nóng hầm hập, tiếng khóc dội lên trong đêm tối, nghe mà thắt ruột. Cha cuống cuồng chạy hết đầu trên xóm dưới tìm thầy thuốc, nhưng đêm khuya, chiến sự rình rập, nhà nhà đóng cửa im lìm, chẳng biết trông cậy vào ai. Ghe đành tấp vội vào một bến sông vắng, cha mắc cây đèn dầu trứng vịt lên mũi ghe, ánh sáng leo lét hắt xuống dòng nước đen đặc. Cha mẹ tôi thay nhau lau nước ấm cho con, bàn tay run rẩy vì lo sợ, mồ hôi hòa lẫn nước sông, mà trán đứa nhỏ vẫn nóng như than hồng.
Giữa lúc ấy, từ bên kia sông, bỗng có hai chiếc xuồng lặng lẽ cập bến, mái chèo khua khe khẽ trong đêm. Nghe tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt, bên xuồng kia có người ngó sang, cất giọng trầm hỏi vọng lại:
- Bé nó bị sao mà khóc dữ vậy cà?
Cha tôi vội đáp, giọng lạc đi vì lo lắng:
- Dạ, cháu nó sốt từ hồi chiều tới giờ, sốt cao quá trời. Tui nóng ruột mà đêm hôm vầy không kiếm đâu ra thầy thuốc.
Chưa dứt lời, đã có một người đàn ông bước sang ghe. Cử chỉ tự nhiên như người quen từ thuở nào. Ông ta cúi xuống, đặt tay lên trán tôi, rồi bật thốt:
- Trời ơi, sốt cao dữ rồi.
Vừa nói, người đàn ông vừa nhanh nhẹn chỉ dẫn, ánh mắt nhìn cha tôi như hỏi ý:
- Đem cho tôi một thau nước ấm. Cởi đồ đứa nhỏ ra, xối nước một hồi cho hạ nhiệt.
Trong cơn bối rối, cha mẹ tôi chỉ còn biết gật đầu nghe theo. Nước ấm được xối liên tục lên thân hình nhỏ bé, nước chảy ào ào xuống lòng ghe rồi thưa dần, hòa vào tiếng khóc thét của tôi. Xong xuôi, người khách bảo lau mình tôi thật nhanh và giữ cho thật ấm. Vị khách lấy trong người ra một viên thuốc bột trắng, nhỏ như con nhộng, đưa cho cha:
- Cà ra, cho cháu uống nửa viên thôi. Tây dược tôi dành phòng thân, cứ yên tâm.
Cha tôi nhìn người đàn ông, phân vân. Nhưng có một linh tính nào đó mách bảo nên ông làm theo, trong lòng vừa run vừa cầu khấn. Quả nhiên, chừng mười lăm phút sau, thân nhiệt tôi dịu dần, cơn khóc lắng xuống, hơi thở đều hơn. Thấy con hạ sốt, cha mừng đến muốn bật khóc. Ông lật đật mang ấm trà ra mũi ghe, mời những người khách lạ uống nước cho ấm bụng.
Họ có tám người, đủ cả giọng miền Nam lẫn miền Bắc, ai nấy đều mặc áo bà ba đen, cổ mang khăn rằn, bên hông có bình toong nước. Áo quần họ tuy giản dị nhưng gọn gàng, sạch sẽ, mang dáng vẻ của những người quen đi đường xa. Khi neo xuồng, từng người một bước lên ghe, không ai nói lớn tiếng, động tác đâu ra đó, như đã quen làm việc chung từ lâu. Trong ánh đèn dầu leo lét, gương mặt họ nửa sáng nửa tối. Vấn điếu thuốc rê, một người lên tiếng hỏi han:
- Đi đâu mà lỡ đường ghé lại đây vậy anh?
Cha chui vào trong ghe, lấy nước pha trà đem ra mời, rồi từ tốn đáp:
- Không giấu gì mấy anh, tui dân miệt trên xuống đây tản cư. Ngày thì đi dọc theo sông này kiếm sống, đêm thấy chỗ nào tạm được thì tấp ghe vô ngủ, sáng lại đi tiếp.
Trong đám người, có giọng ai đó cất lên giữa đêm, ánh đèn dầu trứng vịt chập chờn không nhìn rõ mặt:
- Ráng thêm ít bữa nữa đi, qua Tết này trở đi chắc sẽ yên bình. - Người nói câu đó không cười. Giọng trầm, chắc nịch, như nói với chính mình nhiều hơn là nói với người đối diện.
Nghe nói vậy, cha tôi bỗng mừng, ông đáp khẽ:
- Dạ, nghe vậy tôi mừng quá, yên ổn để còn làm ăn.
Một người khác, giọng Bắc, hỏi tiếp:
- Chú sống bằng nghề gì?
- Dạ, tui vẽ tranh kiếng.
- Tranh gì nghe lạ thế? Trước nay tôi chưa từng thấy.
Cha tôi lặng lẽ ra mũi ghe, lấy một bức tranh phong cảnh vừa mới vẽ xong. Bức tranh ông đặt tên là "Bình yên", như một lời cầu mong thầm lặng cho năm mới nhà nhà sẽ an bình. Người đàn ông giọng Bắc cầm chiếc đèn dầu trứng vịt soi sát mặt kiếng. Cả nhóm chuyền tay nhau xem, chăm chú đến lặng người. Vừa xem vừa đưa mắt nhìn ra phía sông, như canh chừng điều gì đó trong đêm. Khi nghe tiếng chèo ghe từ xa vọng lại, cả nhóm thoáng im bặt, rồi chỉ khi mặt nước trở lại yên lặng, họ mới tiếp tục câu chuyện. Rồi có người nảy ý, cười nói:
- Hay là chúng ta cũng sắm một bức tranh đi.
Mọi người tán thành. Một người đại diện nói với cha tôi:
- Tụi tui có lớn có nhỏ, nhưng đều cùng tuổi Ngựa. Ngựa già này, Tết tới tròn ba mươi tám; ngựa non kia mới mười bốn. Mỗi đứa một việc, nhưng đã đi chung thì đi cho trọn. Tui muốn cậy anh vẽ giùm cho tụi tui một bức tranh tám con ngựa đang phi nước đại về phía trước, đang mở ra một cảnh thái bình, yên ổn. Nơi đó bầu trời có quầng dương đỏ và đám mây xanh. Phía sau, anh cứ vẽ gió lớn, gió dữ, như những tháng ngày tụi tui đã lội qua trong đêm cũng được, nhưng phải có ánh sao dẫn đường. Bầy ngựa phải sung, phải khỏe, phi thẳng, phi đều, tới khi nào chạm được bình yên thì mới thôi, anh nghen.
Mang ơn cứu đứa con, cha tôi nhận lời không chút đắn đo. Ông hỏi khi nào giao tranh, nhận ở đâu. Người đàn ông lớn tuổi nhất nói:
- Trước Tết ít hôm, anh cứ trở lại chỗ này, tôi sẽ cho anh em tìm đến lấy tranh và trả tiền chu đáo.
Cha tôi gật đầu mỉm cười. Trời bắt đầu ửng nhạt phía chân mây. Trước khi lên xuồng, người đàn ông lớn tuổi nhất trong nhóm dặn khẽ:
- Anh cứ vẽ đi. Tụi tui có thể chậm hẹn, nhưng nhất định không quên. Khi nào đến nhận tranh, anh em sẽ đọc ba lần câu mật hiệu "nhong nhong nhong, ngựa ông đã về", anh nhớ nghen!
Hai chiếc xuồng lại lặng lẽ rời bến, tám con người chia đều trên hai mũi chèo, trôi dần vào sương sớm. Từ xa, vẳng lại một câu vọng cổ buồn buồn, "mai này anh lại về với em, cất lại mái nhà tranh sau bao nhiêu năm dài xa vắng...".
Cha tôi vẫn thường kể lại trong những lần ông ra bến sông ngó về phía xa ráng đỏ hoàng hôn. Sau đêm gặp gỡ ấy, cha sắm một tấm kính, ngày ngày ngồi trước mũi ghe mà vẽ. Mực tàu được ông tách từng nét cẩn trọng, từ dáng ngựa, thế chạy cho đến từng sợi bờm bay ngược trong gió, từng lớp sóng cuộn phía sau lưng ngựa. Có những buổi trưa, nắng đứng bóng, cha tôi vẫn cặm cụi bên mặt kiếng, quên cả giờ giấc, chỉ còn nghe tiếng nước vỗ nhẹ vào mạn ghe và nhịp thở của chính mình hòa theo từng đường cọ.

Minh họa: hoàng đặng
Bức tranh hoàn thành vào chiều đưa Ông Táo về trời. Cha nghĩ bụng, giao tranh cho khách, rồi mọi chuyện sẽ lắng xuống, mình sẽ về quê, sống những ngày yên ổn, an cư lạc nghiệp. Nhưng mỗi lần kể tới đó, cha chỉ tặc lưỡi, chiến tranh loạn lạc, vật đổi sao dời...
Năm ấy xảy ra trận lớn. Tết vừa tới, người người đã vội vã chạy đạn, tản mác khắp nơi. Bức tranh Bát Mã theo chân gia đình tôi đi tản cư nhiều nơi, gửi hết nhà này sang nhà khác, long đong gần trọn một năm trời cha mới nhận lại được. Mang tranh trở về chỗ cũ, cha hỏi thăm thì không ai biết tám người khách năm nào là ai. Người ta đồn rằng:
- Chắc là mấy ông cách mạng, trong rừng tràm ra đánh đồn ngoài thị xã.
Theo thông tin đó, cha tôi men ra thị xã thăm dò thì được biết nhóm đánh vào đồn, có người mất, lính kéo ra chôn sau vách đồn, mấy người khác còn sống, trôi dạt về đâu không ai biết.
Biết chờ không được nên sau Tết khi đã tạm lắng, cha tôi đưa cả nhà về lại quê. Dọc đường, có người nhìn thấy bức tranh đẹp quá, ngỏ ý hỏi mua với giá cao. Cha lắc đầu, nói mình đã hứa vẽ cho người khác thì không bán. Họ nài nỉ, xin cha vẽ lại một bức y hệt, ông đồng ý, đặt tên là Mã đáo thành công. Không ngờ, từ đó bức tranh Bát Mã lại được nhiều người ưa chuộng đến lạ. Tôi nghĩ, có lẽ người ta nhìn vào đàn ngựa phi nước đại hướng về phía mặt trời và mây xanh và mấy cánh chim tung bay mà thấy trong đó một niềm tin, một lời cầu mong cho cuộc đời tươi sáng, nên tìm đến đặt ông vẽ không ngơi tay. Nhờ vậy, gia đình tôi dần ăn nên làm ra, trở về quê dựng nhà, sống bằng nghề vẽ tranh kiếng với bức tranh Bát Mã độc đáo. Sau này, khi dòng tranh Bát Mã trở thành một trong những đề tài phổ biến nhất của tranh kiếng Nam Bộ - mà ít ai hay nó ra đời từ một cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên.
Tôi nhớ sau này, khi đã hòa bình, mỗi lần giong ghe đi bán tranh ở miệt Thứ, cha đều ghé lại chốn cũ nghỉ lại vài hôm. Lần nào cha cũng dắt tôi đến vách sau của đồn thị xã, bây giờ được trưng dụng làm trạm y tế của phường. Không biết mồ mả ra sao, có đúng là một trong tám người đàn ông khi xưa hay không, nhưng cha tôi vẫn thắp nhang van vái rằng, phải hay không phải thì mấy ông cũng là đồng chí đồng đội của nhau!
Đến bây giờ cha cũng không biết, do lần nào đi bán tranh, cha cũng mang theo bức tranh gốc Bát Mã bên mình hay do người hy sinh bên đồng thiêng. Lạ thay, cứ mỗi lần đi bán ở miệt Thứ, việc mua bán lại hanh thông, tranh vẽ ra đến đâu bán hết đến đó. Chỉ có điều, bức tranh gốc thì vẫn còn nguyên, mà những người đặt tranh năm nào vẫn biệt tăm. Không biết họ đã đi đâu về đâu, còn sống hay đã hòa vào bờ tre, ngọn rạch quê hương.
Lần nào kể đến đoạn này, cha tôi cũng buồn buồn, thở dài. Nhiều lần cha chống gậy lội bộ ra bến sông, miệng lẩm nhẩm đọc "Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn...", mắt ngó về phía xa xăm như chờ đợi một điều gì...
* * *
Một bữa đứng gió, lái tranh ở miệt Thứ gọi cho tôi hay, có người đến tìm hài cốt liệt sĩ chỗ năm nào cha con tôi cũng đến thắp nhang. Tôi tức tốc xuống tới nơi thì vừa lúc hài cốt được trao lại cho gia đình, đúng đây là một trong tám chiến sĩ đặc công làm nhiệm vụ đánh đồn năm xưa. Lần theo những thông tin ít ỏi, tôi hỏi ra được đơn vị cũ, rồi kết nối được với bác Tâm - người tiểu đội trưởng năm nào. Bác lớn hơn cha tôi một con giáp, nhưng còn rất minh mẫn, khỏe khoắn. Nhắc chuyện xưa, bác mừng ra mặt, ký ức như được phủi bụi, từng chi tiết hiện về rành rọt, nguyên vẹn sau 58 năm dài đằng đẵng.
Hai mươi ba tháng chạp, bác Tâm khăn gói vào Nam tìm đến nhà tôi. Cha ngồi trước cửa, mắt hướng ra sông, dáng như người đang chờ một con nước quen. Tay ông cầm cây cọ cũ, gõ nhịp khe khẽ lên thành ghế, đều đều, không vội. Khi xe dừng lại trước sân, bác Tâm với dáng người cao ráo bận áo bà ba, khăn rằn quấn cổ, bình toong lủng lẳng bên hông vừa bước xuống, giọng bác đã cất lên, khỏe và sang sảng, "nhong nhong nhong, ngựa ông đã về".
Cha tôi giật mình. Ông nheo mắt, lắng tai, rồi bỗng đứng phắt dậy, bước ra ôm chầm lấy vị khách lạ mà chẳng hỏi han điều gì. Nước mắt ông trào ra, còn miệng thì cố rướn lên, đọc đi đọc lại câu đồng dao cũ, "Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn... Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn...".
Hôm đó, tôi đem bức tranh Bát Mã gốc bày ra giữa sân. Nắng xuyên qua kẽ lá, đu đưa theo gió, xiên nghiêng mặt kiếng, làm cho bức tranh thêm sinh động, nhìn y hệt như tám con ngựa đang chuyển mình, phi tới. Cha tôi không nói được nhiều. Ông chỉ mỉm cười, nắm chặt tay bác Tâm, miệng vẫn khe khẽ đọc câu đồng dao năm cũ, "nhong nhong nhong, ngựa ông đã về...".
Lần đầu tiên, tôi thấy nụ cười ấy nhẹ tênh đến vậy, như thể sau ngần ấy năm lạc lối, thần trí của cha đã được chính bầy Bát Mã chở về, trả lại cho ông một vòng ký ức vẹn nguyên một màu nguyên thủy.
Ngoài sân, tám con ngựa vẫn phi về phía nắng...