"Chốt" tổ dân phố ở Hà Nội và TPHCM phải có từ 700 hộ trở lên
(NLĐO)- Chính phủ đã ban hành nghị định quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp thôn, tổ dân phố, có hiệu lực từ ngày 26-5.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 185 quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, có hiệu lực từ ngày 26-5.

Chính phủ ban hành nghị định về trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp thôn, tổ dân phố
Nghị định gồm 5 chương, 20 điều, quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Theo Chính phủ, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các địa phương triển khai sắp xếp thôn, tổ dân phố; rà soát, bố trí, kiện toàn và hoàn thiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ người hoạt động không chuyên trách phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Về tiêu chuẩn thôn, tổ dân phố, nghị định quy định cụ thể quy mô số hộ gia đình theo từng vùng, địa phương. Đối với Hà Nội và TPHCM, thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên.
Tại vùng trung du và miền núi phía Bắc, thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố từ 300 hộ gia đình trở lên. Ở vùng đồng bằng sông Hồng, thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố từ 550 hộ gia đình trở lên. Đối với vùng Bắc Trung Bộ, thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố từ 450 hộ gia đình trở lên.
Tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố từ 450 hộ gia đình trở lên. Ở vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố từ 550 hộ gia đình trở lên.
Nghị định số 185 quy định, trong trường hợp cần thiết do đặc điểm lịch sử, văn hóa, dân tộc, phong tục, tập quán, mức độ đô thị hóa hoặc yêu cầu quản lý thực tế của địa phương, HĐND cấp xã quyết định việc tổ chức và sử dụng tên gọi như thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu hoặc tên gọi cộng đồng dân cư khác phù hợp với thực tiễn địa phương.
Trường hợp áp dụng các tên gọi này thì tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình được thực hiện tương ứng với loại hình thôn hoặc tổ dân phố theo quy định của Nghị định.
Đối với các thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù như miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu vực giải phóng mặt bằng, tái định cư hoặc nằm biệt lập trên đảo, cù lao, cồn trên sông, quy mô số hộ gia đình có thể thấp hơn quy định chung.
UBND cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp đặc thù này, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế, yêu cầu quản lý địa bàn, tổ chức hoạt động cộng đồng dân cư và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Về trình tự, thủ tục thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, Nghị định quy định UBND cấp xã căn cứ nguyên tắc thành lập, tiêu chuẩn quy mô và hướng dẫn của UBND cấp tỉnh để xây dựng đề án trình HĐND cùng cấp xem xét, quyết định.
UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến nhân dân về đề án bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến để hoàn thiện hồ sơ.
Hồ sơ gồm tờ trình của UBND cấp xã; đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại; báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến nhân dân và dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã. Trên cơ sở hồ sơ do UBND cấp xã trình, HĐND cấp xã xem xét, ban hành nghị quyết về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
Đối với đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, UBND đặc khu xây dựng đề án, lấy ý kiến nhân dân và quyết định việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo trình tự quy định.
Nghị định cũng quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố và ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có. Trong trường hợp giải thể, UBND cấp xã xây dựng tờ trình kèm danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể; tổ chức lấy ý kiến nhân dân; hoàn thiện hồ sơ trình HĐND cấp xã xem xét, quyết định.
Đối với trường hợp đổi tên thôn, tổ dân phố, UBND cấp xã lập phương án đổi tên, nêu rõ lý do và tên gọi sau khi đổi; tổ chức lấy ý kiến nhân dân trước khi trình HĐND cấp xã xem xét, ban hành nghị quyết.
Trường hợp ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có, UBND cấp xã lập phương án ghép, nêu rõ sự cần thiết, phạm vi cụm dân cư được ghép, số hộ gia đình và đơn vị tiếp nhận; tổ chức lấy ý kiến nhân dân tại cụm dân cư được ghép và địa bàn tiếp nhận trước khi trình HĐND cấp xã quyết định.
Đối với đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, UBND đặc khu thực hiện trình tự xây dựng hồ sơ, lấy ý kiến nhân dân và ban hành quyết định về giải thể, đổi tên hoặc ghép cụm dân cư theo quy định.