Chuyên gia nói gì về sự nguy hiểm của virus Nipah Ấn Độ?
(NLĐO) - Virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có tỉ lệ tử vong cao trong các đợt bùng phát trước đây, do đó cần được giám sát chặt chẽ.
Trước thông tin ổ dịch virus Nipah xuất hiện tại Ấn Độ khiến hàng trăm người phải cách ly, nhiều quốc gia trong khu vực đã nâng mức cảnh giác. Trao đổi với Báo Người Lao Động, PGS-TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (nay là Cục Phòng Bệnh, Bộ Y tế), khuyến cáo người dân không nên chủ quan trước nguy cơ dịch bệnh.

PGS-TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (nay là Cục Phòng Bệnh, Bộ Y tế). Ảnh: NVCC
- Phóng viên: Vì sao virus Nipah được xếp vào nhóm tác nhân truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm?
+ Virus Nipah lần đầu được ghi nhận trong đợt dịch tại Malaysia, sau đó xuất hiện rải rác ở một số quốc gia, chủ yếu tại Nam Á và Đông Nam Á. Điều đáng lo ngại nhất là tỉ lệ tử vong rất cao. Người mắc thường có biểu hiện sốt, suy hô hấp và đặc biệt là viêm não, dẫn tới nguy cơ tử vong lớn.
Đây là bệnh lây truyền từ động vật sang người. Dơi ăn quả là ổ chứa tự nhiên của virus. Từ dơi, mầm bệnh có thể lây sang động vật trung gian như lợn, rồi truyền sang người qua tiếp xúc trực tiếp hoặc dịch tiết. Ngoài ra, virus Nipah cũng có khả năng lây từ người sang người, nhất là khi tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc, điều trị.
- Việc lây nhiễm virus Nipah trong cơ sở y tế tại Ấn Độ cho thấy nguy cơ gì, thưa ông?
+ Ấn Độ không phải lần đầu ghi nhận ca nhiễm Nipah, song điểm đáng lo ngại của đợt dịch lần này là lây nhiễm trong khu vực y tế. Bệnh đã lây sang nhân viên y tế trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, cho thấy nguy cơ lây truyền trong môi trường điều trị nếu không kiểm soát tốt, trong khi mức độ nguy hiểm và tỉ lệ tử vong của bệnh vẫn rất cao.
Về nguy cơ virus Nipah xâm nhập Việt Nam tôi cho rằng cần đặc biệt lưu ý hai yếu tố. Thứ nhất là nguy cơ xâm nhập từ bên ngoài thông qua người đi về từ các vùng đang có dịch. Thứ hai, Việt Nam nằm trong khu vực châu Á, nơi có sự phân bố của các loài dơi ăn quả – ổ chứa tự nhiên của virus.
PGS-TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (nay là Cục Phòng Bệnh, Bộ Y tế) trao đổi với Báo Người Lao Động. Kỹ thuật: Ngọc Trinh
- Trong bối cảnh hiện nay, ông đánh giá thế nào về nguy cơ virus Nipah có thể xâm nhập vào Việt Nam?
+ Nguy cơ xâm nhập là có, tuy nhiên tôi cho rằng khả năng bùng phát dịch lớn tại Việt Nam là không cao. Nếu xuất hiện ca bệnh thì nhiều khả năng chỉ ở mức nhỏ lẻ, đơn phát, khó xảy ra tình trạng bùng phát mạnh trên diện rộng như một số dịch bệnh trước đây, chẳng hạn Covid-19.
- Việt Nam cần làm gì để chủ động phòng ngừa nguy cơ virus Nipah, thưa ông?
Dù Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh nào, song cần giám sát chặt chẽ cả trên người và động vật, đặc biệt là dơi và đàn lợn. Người dân không nên chủ quan nhưng cũng không hoang mang, cần hiểu đúng nguy cơ để thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh.
Người dân chú ý các triệu chứng như sốt cao, viêm hô hấp, viêm não, nhất là khi có yếu tố dịch tễ như đi về từ vùng có dịch hoặc tiếp xúc với động vật nghi mang mầm bệnh.
Khi có triệu chứng nghi ngờ, người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, cách ly, điều tra dịch tễ và xét nghiệm xác định. Do triệu chứng của virus Nipah có thể trùng lặp với nhiều bệnh khác, xét nghiệm là bước quyết định để chẩn đoán.
Người dân không tiếp xúc trực tiếp với dơi và động vật nghi là nguồn lây; đảm bảo vệ sinh trong chăn nuôi, giết mổ, ăn chín uống chín, rửa tay bằng xà phòng, đeo khẩu trang. Người làm trong lĩnh vực chăn nuôi, giết mổ cần trang bị đầy đủ bảo hộ lao động, chủ động khai báo y tế khi có triệu chứng bất thường.
Các cơ sở y tế cũng cần nâng cao cảnh giác với bệnh nhân có biểu hiện sốt, viêm não, viêm hô hấp kèm yếu tố dịch tễ; đồng thời tăng cường giám sát tại cửa khẩu đối với người nhập cảnh từ vùng có dịch.