Đường rừng chiều cuối năm...

(NLĐO) - Cuối năm 1984, 3 năm sau khi lên Pleiku, Gia Lai nhận công tác, tôi đương lang thang ở huyện Chư Prông, chính xác là ở làng Bạc, thì gặp chị Rơ Lan H’Bình, chủ tịch huyện. Làng Bạc rất nổi tiếng ở huyện này bởi những con người và câu chuyện cũng lạ kỳ.

Chị H’noanh, đội trưởng du kích làng Bạc, có chồng là chiến sĩ du kích, hy sinh. Chị "nối dây" với người em trai chồng, anh này cũng hy sinh. Chị tiếp tục nuôi mẹ cùng những đứa con chung của cả hai người chồng và làm chủ tịch hội phụ nữ xã.

Tôi đương ở làng này để nghe chuyện về chị H’noanh thì gặp chị Rơ Lan H’Bình, chủ tịch huyện. Chị bảo mai chị đi 2 xã vùng sâu là Ya Mơ và Ya Lâu, rồi lên đồn biên phòng chúc Tết,  có đi cùng không? 

Tôi mừng quýnh. Nghe tên 2 xã này từ lâu nhưng chưa biết cách nào để vào, bởi vào đấy hết sức trần ai khoai củ, phương tiện không có mà lại còn fulro nữa. Giờ được chính chủ tịch huyện rủ đi thì còn gì bằng.


Đường rừng chiều cuối năm... - Ảnh 1.

Rừng khộp Tây Nguyên


Cuối năm tức là mùa khô. Chư Prông là vùng đặc trưng đất đỏ Bazan. Gió ù ù thổi và bụi đỏ bay mù trời. Hầu như không ai dám mặc quần áo màu sáng, đi xe máy xe đạp thì mặc áo mưa kín mít dù... không mưa, người cứ như một cây bụi rừng rực đỏ. 

Mờ mờ sáng chúng tôi khởi hành, chiếc U oát chở tổng cộng 7 người chưa kể lương thực và đồ dùng mang theo. Lái xe có một khẩu AK để ngay bên ghế lái. Theo thông tin anh em ở huyện cho biết, anh lái xe này là loại kỳ cựu, tài năng mọi nhẽ, từ chuyện lái xe như múa, sửa xe giỏi, nhớ đường như rô bốt tới xử lý các phát sinh trên đường... Khẩu súng được phát là để bảo vệ chủ tịch huyện trong những chuyến công tác vùng sâu, biên giới...

****

Rừng khộp mùa khô đẹp mê người. Trên xe mọi người rì rầm nói chuyện, tôi lặng lẽ lẽ ngắm rừng khộp ban mai. Hồi ấy tôi vẫn tưởng khộp là một loại cây nên từng làm bài thơ có câu "những cây khộp già đăm chiêu trong chiều vắng", mãi sau mới biết, nó là một loại rừng nghèo. 

Nghèo nhưng vẫn là rừng với tất cả những tiêu chí của rừng gồm nhiều tầng, nhiều loại động thực vật sinh sống và quan trọng nữa, cũng sau này tôi mới biết, nó làm chức năng điều tiết môi trường, là cái thùng tô nô khổng lồ chứa nước cho đồng bằng.

Bụi đỏ ngập bánh xe, tài xế xoay kính chứ cho mở chứ không đóng kín, anh giải thích: như thế bụi vào rồi ra chứ không thì nó đóng tảng trong xe. Xe Uoát khác xe bây giờ, có cánh cửa nhỏ để lật, và về cơ bản nó hở thông thống từ sàn, từ capo chứ không kín mít như xe đời mới. Muốn mát thì tài xế độ thêm cái quạt nhỏ gắn bên cạnh vô lăng, nó quay vù vù để xua bụi nhưng mặt mũi quần áo ai cũng đỏ quạch. Mà hồi ấy cũng chưa có phong cách đeo khẩu trang như bây giờ, nên không chỉ mũi, tai, mà ngay cả miệng và mắt cũng đầy bụi. Mũi thì khỏi nói, bụi bám cả tảng trông mặt nhau rất buồn cười.

Bỗng khực... khực... khực..., xe gằn lên rồi dừng lại. Sa lầy rồi, tài xế kêu lên rồi nhảy xuống. Lâu nay tôi mới chỉ thấy xe sa lầy vào mùa mưa,  bánh xe quay tít trong bùn. Giờ xe mắc lầy giữa mùa khô, bánh xe cũng quay tít trong... bụi. Té ra cái đường sống trâu, bụi phủ bằng lì, gầm xe mắc vào cái sống trâu ấy, còn bánh thì "bơi" trong cái rãnh đầy bụi. 

Trên xe thời ấy luôn có xẻng, dao và chiếu để xử lý sự cố. Chiếu để trải dưới gầm xe, lái xe bò vào ngửa mặt lên sửa, còn xẻng để cứu xe bị sa lầy, dao để chặt cây. Chúng tôi xúm vào chặt cây thả xuống rãnh cho bánh xe bám, còn lái xe thì bạt bớt sống trâu cho bánh xe chạm đất. Trong lúc chúng tôi cùng lái xe loay hoay thì chị Bình đứng ngó ra xung quanh, một lúc chị kêu: "Mình lạc sang đất Campuchia rồi!".

Mọi người, nhất là tôi, giật mình. Mới ở xuôi lên, lại là xứ có nhiều người vượt biên nên tôi hiểu sự nguy hiểm khi lạc sang biên giới nước bạn, trong khi lái xe reo lên, may quá, thế gần đây có cái suối, mình tới đấy... nấu cơm ăn.

Rừng miên man, đường chằng chịt, là đường mòn, xe cứ thế bò, chỉ những người như chị Bình với lái xe mới biết hướng mà đi. Vâng, sau chị Bình bảo căn hướng thôi chứ có đường đâu, cứ chỗ nào lách được thì đi thôi. Thế nên lạc cũng chả có gì lạ. Và cũng mới biết, lạc ở huyện biên giới này là bình thường.

Anh lái xe lấy trên xe xuống một bánh thuốc nổ, ném cái uỳnh xuống suối. Chúng tôi lội xuống nhặt cá. Giờ mới biết trên xe có cả xoong nồi mắm muối. Một chốc cơm chín và nồi cá nửa kho nửa canh cũng xong. Bữa cơm ngon nhất đời tôi cho tới lúc ấy.

Thăm 2 làng sát biên và chúc tết đồn biên phòng xong, chúng tôi về.


Đường rừng chiều cuối năm... - Ảnh 2.

Ảnh minh hoạ

Lần này đi đường khác.

Chiều đẹp mê hồn. Mặt trời vàng và đất đỏ. Những cây dầu cao vút, cỏ lau vươn cả vào cửa xe. Thi thoảng gặp một con thỏ rừng ngơ ngác giữa đường, hoặc một con nai nhún mình phóng vèo qua đường...

Cái Uoat chất 12 người vì có thêm mấy người đi nhờ về thị trấn để ra thị xã (Hồi ấy chuyện xe xuống cơ sở rồi chở người đi nhờ lên là điều bình thường, chứ nếu không, cả tháng cán bộ dưới cơ sở, nhất là giáo viên, không thể về nhà, và cái xe U oát chở hàng chục người cũng là... bình thường), riêng ghế trước là 3 người, có chị Bình, tôi và một người nữa. Thò tay ra ngoài cái miếng kính lật đặc trưng của xe U-oat để giữ nó ngược chiều gió cho gió lọt vào trong xe, tay tôi bị cỏ lau cứa rất xót.

Một bóng áo trắng đứng bên đường vẫy. Chị Bình nói lái xe dừng lại hỏi thăm. Một cô giáo xin đi nhờ ra huyện. Dù đã rất chật nhưng rồi người đứng người ngồi cũng thu xếp được. Cô giáo nửa đứng nửa quỳ ở sau lưng hàng ghế sau cùng 2 người nữa. Trên đường được biết, cô giáo ra huyện để đón xe về quê Nghệ An, mẹ ốm mới nhận điện lúc chiều. Bức điện tín đã 4 ngày mới tới tay cô giáo, thế là cô tức tốc ra huyện, đi bộ, cứ thế đi gặp ai có xe máy thì xin đi nhờ, rồi gặp xe chúng tôi.

Ra đến thị trấn, chị Bình cương quyết mời cô giáo ăn cơm tối, lúc ấy khoảng 20 giờ, xong tất cả chúng tôi cùng lên xe đưa cô giáo ra... bến xe. Tại đây chị Bình bằng uy tín cá nhân, đặt vấn đề với người phụ trách bến xe làm sao để cô giáo sáng mai có thể có vé xe để về quê sớm nhất. Anh phụ trách bến xe hứa sáng mai sẽ có xe cho cô giáo về, mai có xe tăng cường, nhưng bằng xe... Ifa. 

Ifa là loại xe tải của Đức, đặc sản thời bao cấp. Tết được tăng cường chở khách, luật hồi ấy chưa nghiêm như bây giờ. Chính tôi cũng từng làm "khách" của chuyến Ifa như thế đi từ Pleiku xuống Ayun Pa, tất cả ngồi bệt dưới sàn xe chứ không có ghế. Về quê ngày Tết có được vé xe Ifa để đi ngay cũng ngang bằng trúng số. Tôi nhớ chị Bình còn đề nghị cô giáo về nhà khách của huyện nghỉ, dù hồi ấy cái nhà khách rất xập xệ, nhưng cô giáo xin phép ngồi tại bến xe chờ sáng để đi xe cho... chắc ăn.

Giờ những cô giáo vùng sâu vùng xa vẫn còn, nhưng họ không còn phải lầm lũi đi bộ một mình đường rừng như thế nữa, chí ít họ cũng có cái xe máy để đi, và trước khi ra bến xe thì cũng đã có những cú điện thoại đặt xe chứ không đến nỗi cứ đi mịt mù trong chiều cuối năm như cô giáo tôi gặp gần 40 năm trước ấy...