Biên nhận ghi trên... vách buồng

Ra trước tòa em vợ khai rằng đã trả nợ cho vợ chồng chị gái một số tiền và anh rể có ghi nhận trên vách buồng!

Từ tháng 5- 9/2007, chị Nguyễn Thị Huỳnh Như có cho chị Nguyễn Thị Phương Dung (em ruột Như) mượn 4 lần nợ, tổng cộng 37.370.000đ. Sau 4 lần mượn tiền, vào ngày 9/9/2008, vợ chồng chị Dung (anh Dương Thanh Quý) có làm biên nhận nợ tiền của vợ chồng chị Như (anh Nguyễn Hoàng Sơn).
 
Trong biên nhận nợ, chị Dung có ghi thêm 10 năm trả, ký tên là Ngân (tên thường gọi của chị Dung). Sau khi xem lại biên nhận, anh Sơn không đồng ý việc trả trong 10 năm.
 
Vì thế, chị Dung đã viết lại tờ mượn nợ khác, hẹn đến tháng 12/2007 sẽ trả đủ tiền. Đến hẹn, anh Quý không trả nên anh Sơn đến nhà đòi nợ. Anh Quý cho rằng, vợ chồng anh đã trả cho vợ chồng Sơn 25.300.000đ. Còn anh Sơn cho rằng không có nhận 25.300.000đ của chị Dung như chị Dung trình bày và anh Sơn cũng không có viết biên nhận nhận nợ trên vách buồng nhà chị Dung và anh Quý.
 
Nay anh Sơn và chị Như yêu cầu anh Quý, chị Dung có trách nhiệm trả số tiền còn nợ là 37.370.000đ và lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 12/1/2009 cho đến nay là 20 tháng.
 
Bị đơn là anh Dương Thanh Quý và chị Nguyễn Thị Phương Dung trình bày: Số tiền 37.370.000đ là do anh Sơn, chị Như gửi nhiều lần cho chị Dung. Sau đó, chị Dung có viết giấy nợ tại nhà mẹ ruột, lần đầu viết biên nhận sai nên đã xé bỏ và viết biên nhận lại vào ngày 9/9/2008, trong biên nhận ghi 10 năm trả có sự đồng ý của anh Sơn, anh Sơn nói khi nào có tiền thì trả. Chị Dung có đưa lại cho anh Sơn 25.300.000đ, tuy không có làm biên nhận trên giấy nhưng anh Sơn có ký nhận tiền trên vách nhà anh Quý bằng viết mực màu đỏ và mực xanh, khi đưa tiền cho anh Sơn có người thứ ba chứng kiến.
 
Anh Quý cho rằng việc chị Dung lấy tiền của anh Sơn, chị Như là anh không hay biết, sau này chị Dung làm biên nhận nợ thì anh Quý mới biết. Nay chị Dung và anh Quý đồng ý trả số tiền 37.370.000đ cho vợ chồng anh Sơn, chị Như nhưng phải khấu trừ vào số tiền 25.300.000đ đã đưa cho anh Sơn, số tiền còn lại trả trong 10 năm theo biên nhận nợ.
 
Gia đình thương lượng không thành. Ấp, xã hòa giải không xong. Vợ chồng chị Như đệ đơn đến TAND huyện Long Hồ-Vĩnh Long khởi kiện vợ chồng người em.
 
Trong quá trình xét xử sơ thẩm, TAND huyện Long Hồ tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của vợ chồng chị Như. Theo đó, buộc vợ chồng chị Dung phải có trách nhiệm trả lại vợ chồng chị Như 37.370.000đ; không chấp nhận yêu cầu trả tiền lãi 7.474.000đ; không chấp nhận yêu cầu của vợ chồng chị Dung đòi anh Sơn, chị Như trả số tiền 25.300.000đ.
 
Sau đó, vợ chồng chị Dung kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: không đồng ý trả 37.370.000đ cho vợ chồng chị Như vì theo biên nhận ngày trả nợ là 10 năm nhưng đến nay là chưa đến hạn trả nợ và yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo hướng buộc anh Sơn trả lại 25.300.000đ cho chị Dung vì kết quả giám định kết luận chữ viết là do anh Sơn viết ra.
 
Viện KSND huyện Long Hồ cũng có kháng nghị bản án sơ thẩm, với lý do tòa án sơ thẩm xử buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 37.370.000đ là chưa đúng, lẽ ra phải xử bác yêu cầu của nguyên đơn mới chính xác. Hơn nữa, tòa án xác định đây là hợp đồng vay không kỳ hạn để giải quyết vụ án là chưa đúng, vì đây là hợp đồng vay có kỳ hạn (10 năm trả) và không có lãi. Do đó, tòa án phải áp dụng Điều 478 của Bộ luật Dân sự mới đúng căn cứ pháp luật.
 
Mới đây, TAND tỉnh Vĩnh Long đã đưa vụ kiện ra xét xử phúc thẩm. HĐXX phiên tòa phúc thẩm xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn Dung không đồng ý trả 37.370.000đ cho vợ chồng chị Như vì theo biên nhận ngày trả nợ là 10 năm nhưng chưa đến hạn trả nợ là không có cơ sở để chấp nhận. Bởi vì, theo tờ biên nhận ngày 9/9/2008 ghi nguyên văn: “Tôi có mượn của chị tôi số tiền 37.370.000đ, ngày trả 10 năm trả” nhưng tại phiên tòa phúc thẩm cả bị đơn và nguyên đơn đều xác nhận thực chất là anh Sơn gửi tiền cho Dung giữ giùm và cũng không phải trả tiền công thì đây là hợp đồng dân sự không có thời hạn và không có lãi theo quy định.
 
Còn thời hạn ghi trên giấy: “10 năm trả” là do phía bị đơn tự ghi trong khi không được phía nguyên đơn đồng ý, nên được xem là hợp đồng gửi giữ không có thời hạn. Do đó, phía vợ chồng chị Như được yêu cầu lấy lại tài sản bất cứ lúc nào. Tính từ lúc khởi kiện đến nay đã hơn 2 năm, có thể xem đó là thời gian phía gửi giữ đã báo trước cho phía nhận giữ tài sản một thời gian hợp lý.
 
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Dung yêu cầu anh Sơn trừ lại số tiền đã nhận là 25.300.000đ cho chị Dung là không có cơ sở để chấp nhận. Bởi vì: trên tấm ván ép chính tay anh Sơn ghi nhưng chỉ thể hiện ghi chữ số 1.800.000đ, 23.500.000đ mà không có ghi có nhận tiền hay những từ gì để chứng minh cho việc anh Sơn có nhận của chị Dung 25.300.000đ, phía anh Sơn không thừa nhận là có nhận tiền của chị Dung nên không có cơ sở buộc anh Sơn có trách nhiệm trừ cho chị Dung 25.300.000đ đã nhận.
 
HĐXX tuyên xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng chị Dung có trách nhiệm trả lại 37.370.000đ cho vợ chồng chị Như; không chấp nhận yêu cầu phản tố của vợ chồng chị Dung yêu cầu anh Sơn và chị Như trả 25.300.000đ.