Doanh nghiệp kinh doanh vàng vay vàng trong dân: Không cấm nhưng ai dám cho vay?
Doanh nghiệp vay vàng trong dân là việc không bị cấm theo quy định, nhưng rủi ro lớn khiến cả người vay lẫn cho vay đều dè chừng.
Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam vừa kiến nghị Thủ tướng cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để phục vụ sản xuất. Đồng thời, kiến nghị Chính phủ ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua vàng trong dân.
Rủi ro khó lường
Chia sẻ với PV VietNamNet, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên VIAC, cho biết việc doanh nghiệp vay vàng trong dân là quan hệ dân sự; pháp luật từ trước đến nay không cấm và cũng chưa có quy định điều chỉnh cụ thể.
Trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động huy động và cho vay bằng vàng bị cấm do rủi ro lớn. Tuy nhiên, ngoài hệ thống ngân hàng, các giao dịch liên quan đến vàng như góp vốn, vay mượn, tặng cho, trao đổi, mua bán hoặc dùng vàng làm tài sản bảo đảm đều không bị cấm.
Theo ông Đức, pháp luật hiện chỉ cấm sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán, đồng thời quy định hoạt động “kinh doanh vàng, trừ vàng trang sức, mỹ nghệ” là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, phải có giấy phép (xếp thứ 192 trong Luật Đầu tư năm 2025).
Theo ông Đức, pháp luật không cấm việc các bên tự thỏa thuận vay vàng (trừ trường hợp thuộc hoạt động “kinh doanh vàng” thì phải đáp ứng điều kiện theo quy định). Tuy nhiên, rủi ro của hình thức này là rất lớn, cả về nguồn cung lẫn biến động giá.
Ông đặt vấn đề: nếu đến hạn mà không thể trả, liệu ai dám vay và ai sẵn sàng cho vay?
Theo chuyên gia, hoạt động vay vàng đối mặt với rủi ro rất lớn và khó kiểm soát.
Nếu giá vàng ổn định hoặc giảm, rủi ro không lớn. Tuy nhiên, khi giá biến động mạnh, thậm chí tăng đột biến, bên vay rất dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán bằng vàng hoặc quy đổi ra tiền.
Ông dẫn chứng, báo chí mới đây đưa tin về Công ty CP Thủy hải sản Sài Gòn (APT) không thể trả được khoản nợ vay Southern Bank (nay là Sacombank) 5.833 lượng vàng SJC, tại thời điểm giá vàng SJC 17,66 triệu đồng/lượng, trị giá quy đổi là 103 tỷ đồng. Đến cuối năm ngoái, giá vàng đã lên tới 152,8 triệu đồng/lượng, trị giá quy đổi là 891,28 tỷ đồng, tăng 8,65 lần.
“Doanh nghiệp thường vay với quy mô lớn thì ngay cả khi không có lãi hoặc lãi thấp, rủi ro vẫn quá lớn. Cả hai phía doanh nghiệp và người dân đều cần hết sức thận trọng với rủi ro tiềm ẩn quá lớn như vậy”, ông Đức nhấn mạnh.
Do đó, doanh nghiệp có thể thực hiện nếu đánh giá khả thi và bảo đảm khả năng trả nợ bằng vàng. Tuy nhiên, ông Đức lưu ý Nhà nước cần có cảnh báo rõ ràng về rủi ro đối với người dân.
Thiếu kiểm soát có thể kích hoạt chu kỳ ‘vàng hóa’ mới
Còn TS Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cho hay, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có lượng vàng tích trữ trong dân rất lớn, song phần lớn nguồn lực này chưa tham gia vào chu trình sản xuất - kinh doanh, chưa tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Trong khi đó, các doanh nghiệp chế tác vàng trang sức vẫn phải mua nguyên liệu theo giá thị trường, chịu áp lực vốn lớn và phụ thuộc vào nguồn cung hợp pháp đang được kiểm soát chặt chẽ. Nếu có cơ chế vay vàng trong dân, doanh nghiệp có thể giảm áp lực vốn lưu động, mở rộng quy mô sản xuất, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành kim hoàn - mỹ nghệ, lĩnh vực có tiềm năng xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo ông Nhân, tính khả thi của đề xuất không nằm ở khía cạnh dân sự, bởi quan hệ vay mượn tài sản là phù hợp với quy định pháp luật, mà chủ yếu ở góc độ quản lý tiền tệ và ổn định thị trường vàng, thuộc phạm vi điều tiết của Chính phủ và cơ quan quản lý.
“Thực tế cho thấy, các cơ chế “vàng hóa” nền kinh tế nếu không được thiết kế chặt chẽ có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro: hình thành thị trường vàng song song, gia tăng đầu cơ, tạo áp lực lên tỷ giá và làm suy yếu vai trò của tiền đồng trong lưu thông. Nếu cho vay vàng tự do theo thỏa thuận, nguy cơ biến tướng thành hoạt động huy động vàng quy mô lớn, tương tự hoạt động ngân hàng nhưng nằm ngoài hệ thống giám sát tài chính”, ông Nhân nói.
Vì vậy, theo chuyên gia, đề xuất chỉ có thể triển khai khi đi kèm một “hàng rào thể chế” rõ ràng: giới hạn đối tượng vay (chỉ doanh nghiệp chế tác), giới hạn mục đích sử dụng (chỉ phục vụ sản xuất trang sức), bắt buộc đăng ký, báo cáo và chịu sự giám sát; đồng thời không cho phép biến tướng quan hệ vay vàng thành hoạt động tín dụng trá hình.
Nếu được thiết kế hợp lý, đây có thể là cách thức huy động nguồn lực vàng trong dân phục vụ sản xuất thay vì đầu cơ. Ngược lại, nếu thiếu kiểm soát, chính cơ chế này có thể trở thành điểm khởi phát cho một chu kỳ “vàng hóa” mới. Vì vậy, vấn đề không phải là có cho vay vàng hay không, mà là thiết kế cơ chế quản lý như thế nào để vừa khai thác hiệu quả nguồn lực, vừa bảo đảm ổn định tiền tệ quốc gia.
Trong khi đó, luật sư Trương Thanh Đức nói thẳng việc kiến nghị Chính phủ ban hành quy định riêng cho hoạt động này là không cần thiết.
“Nguyên tắc của pháp luật là những gì không cấm thì người dân được làm. Nếu ban hành thêm quy định để “cho phép” chẳng khác nào tự “mua dây buộc mình”, đi ngược lại tinh thần tự do kinh doanh, cắt giảm giấy phép con và điều kiện kinh doanh. Đồng thời, điều này còn có thể gây hiểu nhầm rằng việc vay vàng đã được Nhà nước “cấp phép” hoặc “bảo đảm””, vị luật sư lưu ý.
Về lãi suất, do không phải vay tiền nên hoạt động này không bị điều chỉnh bởi quy định trần lãi suất trong Bộ luật Dân sự, các bên có thể thỏa thuận tự do.
Luật sư Trương Thanh Đức cũng đánh giá, đây không phải là giải pháp tốt để huy động nguồn lực. Thay vào đó, cần khuyến khích người dân bán vàng để lấy vốn làm ăn hay đầu tư vào các kênh như góp vốn thành lập doanh nghiệp, mua trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản hoặc gửi tiền ngân hàng, qua đó đưa nguồn lực vào lưu thông, sản xuất, kinh doanh.
Ngoài ra, vàng là tài sản có giá trị cao, gọn nhẹ, dễ quản lý và thanh khoản tốt, nên có thể được sử dụng hiệu quả trong các giao dịch bảo đảm như cầm cố, đặt cọc, ký cược cho các khoản vay, nghĩa vụ bảo lãnh và nhiều nghĩa vụ dân sự khác, thay vì để “nằm chết” trong két.