Đưa dịch vụ công trực tuyến về với bản làng, người dân

(NLĐO) - Quá trình xây dựng chính quyền số, nhiều địa phương giúp hàng ngàn người dân tự tin tiếp cận và sử dụng dịch vụ công trực tuyến, góp phần giảm nghèo

Từ một tỉnh miền núi gặp nhiều khó khăn về hạ tầng, tỉnh Cao Bằng đã quyết tâm chính trị mạnh mẽ, lấy người dân làm trung tâm. Việc xây dựng Tổ chuyển đổi số cộng đồng và triển khai mô hình "Bình dân học vụ số" đang giúp hàng ngàn người dân của tỉnh Cao Bằng tự tin sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Đưa dịch vụ công về với bản làng, người dân - Ảnh 1.

Người dân tỉnh Cao Bằng đến trung tâm hành chính công để cung cấp thông tin tài liệu làm sạch dữ liệu đất đai. Ảnh: Phùng Thọ

Đối diện với những thách thức đặc thù của một tỉnh miền núi biên giới, nơi địa hình hiểm trở và hạ tầng còn nhiều hạn chế, Tỉnh ủy Cao Bằng đã sớm ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU (năm 2022) về chuyển đổi số, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt.

Sự quyết tâm này đã tạo ra một nền móng thể chế vững chắc, bao gồm Khung kiến trúc Chính quyền số phiên bản 4.0, Kế hoạch nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến và các đề án phổ cập kỹ năng số. Đồng thời, tỉnh Cao Bằng cũng dồn lực đầu tư cho hạ tầng số, lắp đặt hơn 1.200 trạm thu phát sóng, đảm bảo 100% xã có kết nối internet băng rộng cố định và di động 3G, 4G, thậm chí sóng 5G đã phủ tới các trung tâm đông đúc, tạo ra đường truyền ổn định và an toàn cho vận hành Chính quyền số từ tỉnh đến tận cấp xã.

Chú trọng ứng dụng công nghệ trong giảm nghèo

Điểm nhấn mang tính đột phá trong chiến lược của tỉnh Cao Bằng là việc tập trung đưa dịch vụ công đến sát người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Tỉnh Cao Bằng đã phát huy tối đa vai trò của 1.241 tổ chuyển đổi số cộng đồng với hơn 9.300 thành viên, hoạt động như những "đại sứ số" tại cơ sở. Lực lượng này không chỉ tuyên truyền mà còn là những người trực tiếp "cầm tay chỉ việc," hướng dẫn người dân tham gia vào mô hình "Bình dân học vụ số" để học và làm chuyển đổi số.

Nhờ vậy, người dân, kể cả đồng bào dân tộc thiểu số, đã dần quen với việc tra cứu thủ tục, nộp hồ sơ trực tuyến, và thanh toán điện tử, thay đổi thói quen từ chỗ "ngại công nghệ" trở thành những "người dùng số" tích cực. Sự chuyển biến này đã giúp Cao Bằng xây dựng một xã hội số bao trùm, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau.

Hiện nay, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh Cao Bằng cung cấp 1.672 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và một phần. Đáng chú ý, nền tảng Công dân số của tỉnh Cao Bằng đã được ra mắt và thu hút hơn 21.000 lượt tải, trở thành kênh tương tác đa chiều, giúp người dân gửi phản ánh, kiến nghị và giúp chính quyền lắng nghe, phục vụ kịp thời hơn.

Đưa dịch vụ công về với bản làng, người dân - Ảnh 2.

Ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất rau an toàn ở Bắc Ninh

Thời gian qua, tỉnh Bắc Ninh đã dành nhiều nguồn lực cùng những cách làm sáng tạo trong công tác giảm nghèo, mang lại nhiều kết quả nổi bật. Trong đó việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và dữ liệu số vào công tác quản lý, giám sát các chính sách an sinh đã tạo ra bước tiến quan trọng, giúp các nguồn lực đến đúng đối tượng, kịp thời và hiệu quả hơn.

Nhằm đa dạng hóa sinh kế cho người dân, đặc biệt người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo khó sớm vươn lên thoát nghèo, Bắc Ninh đã tập trung đầu tư hạ tầng số, mạng viễn thông và Internet cho các khu vực còn khó khăn. Nhờ đó, người dân không chỉ có điều kiện tiếp cận thông tin và tri thức thuận lợi hơn, mà còn mở rộng cơ hội sản xuất, kinh doanh trong thời đại số, tạo nền tảng vững chắc cho sinh kế lâu dài.

Cụ thể, Bắc Ninh đã chú trọng đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, phổ cập mạng di động, internet đến 100% thôn, xóm. Đặc biệt, các xã vùng sâu, vùng có đông lao động nhập cư đã được lắp đặt cụm loa truyền thanh thông minh, ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông vào sử dụng, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách giảm nghèo đến từng hộ dân. Đối với nhóm người yếu thế, Bắc Ninh cũng luôn quan tâm và hỗ trợ người dân, đặc biệt là hộ nghèo, cận nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật đều được sử dụng dịch vụ viễn thông và công nghệ số.

Đáng chú ý, Bắc Ninh đã phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông triển khai điểm truy cập internet miễn phí tại các nhà văn hóa thôn, khu dân cư, giúp người dân dễ dàng tra cứu thông tin, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Các lớp tập huấn kỹ năng số cơ bản được chú trọng và mở thường xuyên tại các trung tâm học tập cộng đồng, hướng dẫn người dân thao tác dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử, đăng ký học nghề và tìm việc làm qua mạng. Nhờ đó, tỉ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh đạt trên 95%, tạo nền tảng thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số toàn diện ở nông thôn và thu hẹp khoảng cách về thông tin cũng như mở hướng sinh kế mới cho người dân, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững...

Nhờ có định hướng đúng, cách tiếp cận mới và sự quyết liệt, đồng bộ trong triển khai thực hiện, sau gần 5 năm triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, tỉ lệ hộ nghèo đa chiều của Bắc Ninh đã giảm còn dưới 0,8%, thấp hơn mức bình quân toàn quốc.

Tăng cường hỗ trợ nhóm yếu thế tiếp cận dịch vụ công trực tuyến

TP Hà Nội đang chuyển mạnh từ cách giải quyết thủ tục hành chính truyền thống sang mô hình phục vụ trên môi trường số, trong đó chú trọng hỗ trợ nhóm yếu thế và người dân ở khu vực xa trung tâm tiếp cận công nghệ. Những mô hình như "dịch vụ công lưu động", "điểm hỗ trợ thủ tục hành chính trực tuyến" được triển khai tại cơ sở cho thấy nỗ lực của chính quyền trong việc thu hẹp khoảng cách số, gắn cải cách hành chính với xây dựng chính quyền số, công dân số.

Đưa dịch vụ công về với bản làng, người dân - Ảnh 3.

Các đoàn viên thanh niên xã Ô Diên (Hà Nội) đang tập huấn thao tác trên cổng dịch công quốc gia. Ảnh: DIỆU THƯƠNG

Trong tháng 12, Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố phối hợp UBND xã Đại Xuyên triển khai chương trình "Mô hình dịch vụ công lưu động hỗ trợ cho người yếu thế và người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn". Đối tượng được ưu tiên hỗ trợ là nhóm người yếu thế theo Luật Trợ giúp pháp lý, đồng thời cũng là nhóm được Hà Nội xác định ưu tiên trong lộ trình chuyển đổi số, gồm người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật…

Theo kế hoạch, người dân xã Đại Xuyên được hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính ngay tại nhà văn hóa các thôn. Việc "đưa dịch vụ công về thôn" tạo điều kiện để người dân vùng xa tiếp cận sớm, tiếp cận đúng với phương thức giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số. Thay vì phải di chuyển đến bộ phận một cửa, người dân có thể thực hiện thủ tục ngay tại nhà văn hóa thôn; cán bộ chuyên môn trực tiếp hướng dẫn kê khai, tiếp nhận và số hóa hồ sơ, hỗ trợ thanh toán trực tuyến, định danh điện tử, tra cứu tình trạng giải quyết thủ tục và đăng ký nhận kết quả qua bưu chính công ích. Đặc biệt, nhóm người cao tuổi, người khuyết tật, người có hoàn cảnh khó khăn… được ưu tiên trợ giúp, có trường hợp cán bộ đến tận nơi cư trú để hỗ trợ.

Hà Nội hiện đang từng bước chuyển 126 điểm phục vụ hành chính công thuộc UBND xã, phường về trực thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố theo Kế hoạch số 322/KH-UBND. Việc tổ chức lại này hướng tới mô hình hành chính công một cấp, thống nhất đầu mối, chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả thủ tục hành chính, đồng thời đẩy mạnh cơ chế "một cửa, một cửa liên thông" gắn với dịch vụ công trực tuyến toàn trình.

Khi mạng lưới điểm phục vụ hành chính công được tổ chức khoa học, kết hợp linh hoạt giữa trực tuyến và trực tiếp, giữa trung tâm và cơ sở, người dân ở mọi khu vực đều có cơ hội tiếp cận dịch vụ công số công bằng hơn. Mỗi mô hình mới, mỗi điểm hỗ trợ tại cộng đồng là một "nấc thang" để người dân tiến gần hơn tới năng lực số căn bản, từ chỗ làm quen đến chỗ chủ động sử dụng các nền tảng số trong tương tác với chính quyền.

Từ những chuyến xe dịch vụ công về thôn, đến các điểm hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến giữa làng xóm, có thể thấy Hà Nội đang kiên trì theo đuổi mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau trong chuyển đổi số, góp phần vào việc giảm nghèo một cách bền vững.