ĐƯỜNG SẮT TỐC ĐỘ CAO: PHÉP THỬ NĂNG LỰC QUỐC GIA: Rõ nguồn lực và lợi ích

Thời gian qua, việc tổ chức lựa chọn hình thức đầu tư, nhà đầu tư được Chính phủ chỉ đạo chặt chẽ.

Chính phủ chỉ đạo tiếp tục nghiên cứu các phương thức đầu tư nhằm khuyến khích các tập đoàn lớn trong nước tham gia, trên tinh thần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp

Khi trình Quốc hội (QH) khóa XV phê duyệt chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, tại kỳ họp thứ 8 vào cuối năm 2024, Chính phủ cho biết sơ bộ tổng mức đầu tư dự án hơn 1,7 triệu tỉ đồng (khoảng 67,34 tỉ USD). Về huy động vốn, Chính phủ đề xuất hình thức đầu tư công.

Hài hòa lợi ích

Theo giải trình của Chính phủ, với hình thức đầu tư công, nguồn vốn ngân sách nhà nước dự kiến bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2035, kéo dài khoảng 12 năm, mỗi năm cần khoảng 5,6 tỉ USD. Mức đầu tư này tương đương khoảng 1,3% GDP năm 2023 và khoảng 1% GDP năm 2027. Quá trình triển khai sẽ huy động đa dạng các nguồn vốn hợp pháp.

Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW (ngày 4-5-2025) về phát triển kinh tế tư nhân, một số nhà đầu tư đã quan tâm, đề xuất tham gia dự án.

Tại kỳ họp thứ 9, QH khóa XV (Nghị quyết 227/2025/QH15 ngày 27-6-2025) đã bổ sung các hình thức đầu tư ngoài đầu tư công. Cụ thể, chấp thuận thêm phương thức đối tác công - tư (PPP) và đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư; giao Chính phủ tổ chức lựa chọn hình thức, nhà đầu tư theo quy định. Trường hợp cần cơ chế vượt thẩm quyền, Chính phủ sẽ báo cáo QH xem xét.

Thời gian qua, việc tổ chức lựa chọn hình thức đầu tư, nhà đầu tư được Chính phủ chỉ đạo chặt chẽ. Với các cơ chế, chính sách đặc thù được QH thông qua, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng các nghị quyết để triển khai dự án. Đồng thời, chỉ đạo Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan trong quá trình lập dự án tiếp tục nghiên cứu các phương thức đầu tư nhằm khuyến khích sự tham gia của các tập đoàn lớn trong nước, trên tinh thần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp.

Theo lãnh đạo Bộ Xây dựng, bên cạnh những thuận lợi, quá trình triển khai dự án vẫn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là việc xác định hình thức đầu tư, lựa chọn công nghệ và đối tác phù hợp. Một trong những khó khăn là dự án mới có báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, chưa đủ cơ sở để phân tích, đánh giá và lựa chọn các hình thức đầu tư khác ngoài hình thức đầu tư công đã được QH thông qua. "Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Chính phủ, trên cơ sở báo cáo nghiên cứu khả thi do tư vấn lập, Bộ Xây dựng sẽ rà soát kỹ lưỡng và trình Chính phủ lựa chọn hình thức đầu tư dự án" - lãnh đạo Bộ Xây dựng thông tin.

Cũng theo Bộ Xây dựng, việc rút ngắn tiến độ để bảo đảm khởi công dự án vào tháng 12-2026 (theo Nghị quyết số 106/NQ-CP ngày 23-4-2025 của Chính phủ) là rất khó khăn, đòi hỏi quyết tâm cao, nỗ lực lớn và phải khơi thông mọi nguồn lực, cơ chế, chính sách.

ĐƯỜNG SẮT TỐC ĐỘ CAO: PHÉP THỬ NĂNG LỰC QUỐC GIA: Rõ nguồn lực và lợi ích - Ảnh 1.

Hệ thống lên tàu tại ga Sài GònẢnh: NGỌC QUÝ

Bài toán nguồn vốn

Việc QH bổ sung các hình thức đầu tư như PPP và đầu tư kinh doanh đã mở rộng khả năng huy động nguồn lực. Tuy nhiên, bài toán vốn vẫn là thách thức lớn.

TS Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của QH, cho rằng câu hỏi về nguồn lực đầu tư đã được đặt ra cách đây gần 20 năm, khi dự án từng được đưa ra thảo luận trước QH vào năm 2010.

Theo ông Phúc, thời điểm đó, tổng mức đầu tư khoảng 56 tỉ USD, trong bối cảnh kinh tế giai đoạn 2010-2011 rất khó khăn; an toàn nợ công và bội chi là những yếu tố chính khiến QH chưa thông qua. Còn hiện nay, tiềm lực kinh tế của đất nước đã khác, nguồn lực đầu tư không còn là trở ngại lớn như trước.

Thực tiễn quốc tế cho thấy: Nhật Bản đầu tư đường sắt tốc độ cao khi GDP bình quân đầu người khoảng 250 USD; Trung Quốc 1.753 USD (năm 2005); Uzbekistan 1.926 USD (năm 2011); Indonesia 3.322 USD (năm 2015). Trong khi đó, Việt Nam đạt khoảng 4.282 USD vào năm 2023 và dự kiến khoảng 7.500 USD vào năm 2030. Quy mô nền kinh tế năm 2023 đạt khoảng 430 tỉ USD, gấp gần 3 lần so với năm 2010; nợ công ở mức khoảng 37% GDP. Dự kiến năm 2027 - năm đầu tiên khởi công dự án, quy mô nền kinh tế có thể đạt khoảng 564 tỉ USD. Lúc đó, chúng ta có đủ tiềm lực để triển khai dự án.

Về bài toán huy động vốn, đại biểu QH Trần Hoàng Ngân cho rằng đây là một thách thức lớn, cần tính toán kỹ lưỡng. Theo chuyên gia kinh tế này, để giảm áp lực cho ngân sách nhà nước, cần khai thác nguồn thu từ đấu giá đất sạch, đặc biệt tại khu vực nhà ga, depot và các vùng phụ cận theo mô hình TOD.

Trong khi đó, đại biểu QH Phạm Văn Hòa đề xuất hạn chế, thậm chí không vay ODA, thay vào đó huy động vốn trong dân, bởi "nguồn vốn trong dân rất lớn". Theo ông, huy động vốn trong nước với lãi suất hợp lý không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn tạo lợi ích cho người dân.

Cùng quan điểm, đại biểu QH Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cho rằng doanh nghiệp tư nhân có kinh nghiệm huy động vốn trong dân thông qua trái phiếu và các dự án đầu tư. Vì vậy, Nhà nước cần tận dụng nguồn lực này cho dự án, với cơ chế phù hợp và lãi suất hấp dẫn, đồng thời hạn chế phụ thuộc vào vốn nước ngoài. 

Lựa chọn công nghệ, đối tác phải cân nhắc kỹ lưỡng

Bộ Xây dựng cho biết các quốc gia làm chủ công nghệ đường sắt tốc độ cao hầu như không chuyển giao công nghệ lõi, công nghệ độc quyền mà chủ yếu chuyển giao vận hành, bảo trì và đào tạo nhân lực. Trong khi đó, việc làm chủ công nghệ sản xuất tàu cao tốc và hệ thống tín hiệu điều khiển đòi hỏi chi phí rất lớn, cần nền tảng công nghiệp lõi và công nghiệp phụ trợ phát triển.

Theo quan điểm của Chính phủ, đây là dự án hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế. Vì thế, việc lựa chọn công nghệ, đối tác phải được cân nhắc kỹ lưỡng trên nhiều khía cạnh: kỹ thuật, kinh tế, đối ngoại và an ninh.