Thầy Sáng
Năm học 1982-1983, tôi vào trường cấp 3 được hơn một tháng thì có đợt tuyển sinh vào các lớp chuyên của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ). Lớp học của chúng tôi là khóa thứ hai của Trường chuyên Lê Quý Đôn bây giờ. Trường có nhiều lớp, mỗi lớp một môn học: chuyên toán, chuyên văn, chuyên ngoại ngữ, chuyên lý, chuyên hóa...
Lớp chuyên văn của chúng tôi gồm 14 đứa, đa số là học trò nghèo ở quê lần đầu ra tỉnh. Người dìu dắt chúng tôi trong những ngày đầu bỡ ngỡ ấy là thầy chủ nhiệm Trần Sáng. Lớp ít học trò nên thầy chủ nhiệm, lại là thầy giáo dạy văn nữa, dường như thuộc làu tính nết của từng đứa. Năm đứa con trai, so với 9 “cô nàng” quả là... lép vế. Có phải vì điều ấy hay không mà bao giờ thầy cũng “đồng minh” với bọn con trai chúng tôi mỗi khi tranh luận với số đông. Tự bao giờ, thầy Sáng của chúng tôi vừa là người thầy đáng kính vừa là người anh gần gũi. Bây giờ, chúng tôi chẳng đứa nào rành rọt đã ứng dụng như thế nào từ những kiến thức văn chương thầy truyền thụ, nhưng có điều này đã trở thành tâm khảm: Không ít lần thầy tỏ ra rất nghiêm khắc như ông giáo làng khi nói về chữ nhân, chữ đức và lòng tự trọng.
Nhà thầy ẩn khuất trong một con hẻm nhỏ đường Hải Phòng. Ngôi nhà đơn sơ nhưng sách đông tây kim cổ thì rất nhiều và được chăm chút cẩn thận. Vợ thầy là một công chức nhỏ, lương của thầy cô cộng lại cũng rất ít ỏi so với nhu cầu thường ngày của một gia đình. Vậy mà, với thầy những điều ấy nhẹ như không, hay là thầy đã ẩn giấu tất cả khó khăn, vất vả của cuộc mưu sinh vào trong tấm áo mong manh thường ngày thầy vẫn mặc? Đã thế, lâu lâu chuẩn bị được bữa cơm, thầy gọi “mấy đứa học trò xa nhà” đến cùng thầy cô “liên hoan”. Vài năm sau này khi ngồi lại, anh em chúng tôi mới hiểu ra rằng, thầy thương cho cả những điều mà chính chúng tôi lúc bấy giờ cũng cố tình giấu: sự thiếu thốn của những học sinh quê mùa nghèo khó đang trong tuổi ăn, tuổi lớn!
Thầy theo chúng tôi suốt 3 năm học cấp 3. Rồi những ngày cuối cùng đã đến. Chúng tôi mỗi đứa chuẩn bị cuốn sổ thật đẹp và nhao nhao đòi thầy “lưu bút”. Tự tay thầy đã chép bài thơ thầy sáng tác tặng cho mỗi đứa. Bài thơ ấy là hành trang của chúng tôi trên mọi chặng đường đời.
“... Cuộc đời nơi sắp tới
Vùng bình yên cây biếc trời xanh
Hay biển khơi sóng dậy muôn
trùng?
Con đường có bốn mùa cỏ lạ
Hay lần qua còn rỉ máu bàn chân?
*
Dù sao cũng phải lên đường
Gặp bão dông hãy tự cho là số
phận
Nếu bình yên, chớ ngại ngần gọi
tên điều may mắn
Con đường nào cũng khẳng định
cuộc đời!...”.
Tròn 20 năm kể từ dạo chia tay đầy kỷ niệm, cuối tháng 10-2005, chúng tôi lại được đón thầy tại TP Đà Nẵng. Hết làm ông giáo, thầy chuyển sang viết sách. Vẫn hóm hỉnh, gần gũi như ngày nào, tự tay thầy đề tặng sách cho mỗi đứa. Chúng tôi – những đứa học trò xưa giờ đều ngoài 40 tuổi - lại một lần tròn xoe mắt thán phục khi được biết số đầu sách thầy viết và biên dịch từ tiếng Trung đã vượt quá số tuổi của thầy! Vẫn những lời tâm sự thật nhẹ nhàng, sâu lắng như ngày nào: “Cuộc sống thật có ý nghĩa khi ai cũng hiểu câu nói “Nước mắt chảy xuôi”, các em ạ. Đến bây giờ, thầy có cảm giác tiếc khi không thấm thía điều ấy từ sớm hơn chút nữa...”.