Nguyên GĐ công ty Điện lực TP.HCM: "Tôi không nắm luật nên đã làm sai!"

Cả buổi sáng 19-5, phiên tòa xét xử sơ thẩm “vụ án điện kế điện tử” (ĐKĐT) đã bước vào phần xét hỏi bị cáo Lê Minh Hoàng, nguyên giám đốc công ty Điện lực TP.HCM.

Bị cáo Lê Minh Hoàng cho rằng, số ĐKĐT “dỏm” đã được kiểm định là hàng tốt. Chúng chỉ là hàng giả nhãn hiệu, chỉ gây thiệt hại hơn 8,1 tỉ đồng, là chi phí treo lên, gỡ xuống. Nhưng theo hội đồng xét xử (HĐXX), thiệt hại trong vụ này không phải chỉ là 8,1 tỉ đồng chi phí khắc phục để sử dụng lại số ĐKĐT mà là niềm tin của người dân bị xói mòn. Nếu cơ quan điều tra không vào cuộc, người dân vẫn nghĩ ĐKĐT là do của Singapore nhập về chứ không phải là linh kiện từ Trung Quốc.

img
Bị cáo Lê Minh Hoàng, nguyên giám đốc công ty Điện lực TP.HCM tỏ ra rất thoải mái sau phần xét hỏi. Ảnh: MP

"Tôi ký mua 312.000 ĐKĐT “dỏm” là để chủ động cho kế hoạch của năm sau"

Bị cáo Hoàng thừa nhận với số lượng 40.000 ĐKĐT là lớn và việc mua sắm đều phải được EVN phê duyệt. Công ty Điện lực thành phố đã có kế hoạch đấu thầu và đã được EVN chấp thuận. Việc công ty Điện lực thành phố “xé” nhỏ còn 10.000 ĐKĐT để tổ chức đấu thầu vì nhu cầu của xã hội không lớn, mua về nhiều mà không sử dụng phải mất thêm chi phí bảo dưỡng, nếu không các ĐKĐT sẽ không đảm bảo được sự chính xác.

Nhưng thực tế, từ đầu năm 2004 đến cuối năm 2004, công ty Điện lực thành phố đã ký 14 hợp đồng, mua đến 312.000 ĐKĐT, vượt xa con số mà EVN đã duyệt. “Bị cáo nói “chẻ” nhỏ là vì nhu cầu không lớn, nhưng hội đồng xét xử (HĐXX) chỉ tính trong bốn tháng đầu năm 2004, qua bốn hợp đồng mà công ty Điện lực thành phố ký mua với Linkton Singapore con số đã vượt nhiều lần 40.000 cái được duyệt, bị cáo giải thích về điều này ra sao”, thẩm phán Nguyễn Đức Sáu, chủ tọa phiên tòa xét hỏi.

Bị cáo Lê Minh Hoàng lại giải thích, lúc đầu nghĩ rằng nhu cầu của người dân chưa nhiều nhưng thực tế sau khi mua về, tổng hợp lại các nhu cầu của các điện lực chi nhánh thì mua tiếp để đáp ứng đủ nhu cầu. Đồng thời, việc ký mua đến 312.000 ĐKĐT “dỏm” là để chủ động cho kế hoạch của năm sau.

Theo phân cấp của EVN, công ty Điện lực thành phố được chủ động ký các hợp đồng mua sắm thiết bị, vật tư đến 15 tỉ đồng. HĐXX cũng phân tích hành vi của nguyên thủ trưởng của công ty Điện lực thành phố là vi phạm các nguyên tắc tài chính, ký liên tiếp 11 hợp đồng với tổng trị giá vượt gấp nhiều lần “mức trần” cho phép là 15 tỉ đồng.

Sai phạm do... "hiểu sai" và "sức ép"!

HĐXX tiếp tục truy: “Kế hoạch đấu thầu cho năm 2004 đã được EVN phê duyệt rõ về số lượng và đơn giá, không cho phép chẻ nhỏ, không cho phép điều chỉnh giá. Nhưng bị cáo đã nâng giá của ĐKĐT từ 340.000 đồng/cái lên thành 580.000 đồng/cái. Với 310.000 ĐKĐT mua về thì phần chênh lệch gần 75 tỉ đồng, đây có phải là chủ trương của bị cáo?”

Bị cáo Hoàng cho rằng, trước khi nâng giá công ty Điện lực thành phố có tổ chức họp và các phòng ban có đề xuất việc thấy nâng giá là cần thiết.

HĐXX phân tích, quyết định tăng giá thuộc quyền quyết định của bị cáo Hoàng, còn các phòng ban, cán bộ giúp việc chỉ là để phục vụ cho chủ trương nâng giá đó. Và nguồn gốc của vi phạm là xuất phát từ bị cáo Hoàng, với cương vị là giám đốc công ty đã thiếu tinh thần trách nhiệm. Tuy nhiên, bị cáo Hoàng lại cho rằng trong thâm tâm không hề nghĩ chuyện làm là vi phạm, cố ý mà do hiểu sai các quy định của nhà nước.

Đại diện viện KSND TP.HCM “vặn” rằng, phê duyệt của EVN ghi rất rõ đơn giá, số lượng nhưng bị cáo Hoàng không làm đúng, đã xé nhỏ số lượng và tự ý nâng giá là hành vi cố ý, dựa trên ý thức chủ quan của bị cáo. “Bị cáo phải nhìn nhận được cái sai của mình và chúng tôi muốn biết được có cái gì đứng đằng sau, do ai tác động?” đại diện viện KSND TP gặng hỏi.

Bị cáo Hoàng thừa nhận: “Đến bây giờ tôi mới thấy. Nhưng do sức ép đối với tôi là từ công việc, từ dư luận. Ngành điện bị chỉ trích năng suất lao động kém, và dư luận than phiền việc ghi chỉ số điện không đúng, không công bằng trong mua bán điện”.

img
Thiệt hại trong vụ ĐKĐT không chỉ là 8,1 tỉ đồng chi phí sửa ĐKĐT "dỏm", mà còn làm giảm lòng tin của người dân. Trong ảnh: Người dân (bìa phải) đang khiếu nại với đoàn kiểm tra của bộ Công nghiệp về các ĐKĐT "dỏm" vào ngày 14-7-2005 tại trung tâm thí nghiệm điện thuộc công ty Điện lực TP.HCM. Ảnh: MP

 
Nhiều khuất tất trong các hợp đồng, chứng từ

Bị cáo Hoàng cho biết việc chọn nhà thầu Linkton Singapore làm đơn vị cung cấp 10.000 ĐKĐT là dựa theo đơn giá chào hàng và tờ trình của các tổ xét duyệt, trong đó có ông Lê Văn Hoàng, nguyên phó giám đốc công ty và các trưởng phòng. Tòa vặn: “Việc chọn Linkton Singapore có đúng quy trình?”. Bị cáo Hoàng lại cho rằng, do kế hoạch quá gấp rút, trong khi các nhà thầu khác bỏ giá cao nên khi có tờ trình của cấp dưới liền ký chọn ngay mà không có đủ thời gian xem xét lại hồ sơ. Bị cáo Hoàng khẳng định: “Nếu bị cáo phát hiện ra từ trước thì đã không xét duyệt, chọn nhà thầu không có năng lực, không đủ điều kiện tài chính… nhưng do thời gian quá gấp rút và đã không xem xét kỹ các tờ trình của cấp dưới đưa ra”.

Tuy nhiên, quá trình xét hỏi cho thấy với cương vị là giám đốc công ty Điện lực thành phố và cũng chính tay ông Hoàng ký 11 hợp đồng mua 237.000 ĐKĐT mà không thấy mặt mũi của điện kế mẫu cho thấy sự thiếu trách nhiệm. Ngay cả điện kế mẫu ông Hoàng cũng ấp úng trả lời chuyên gia nói đạt và tin tưởng nên không coi lại.

Hợp đồng giữa công ty Điện lực thành phố và Linkton Singapre ghi rõ là hàng nguyên chiếc, về cảng, nhưng thực tế, hàng lại do Linkton Vina sản xuất tại nhà riêng của vợ chồng ông Lê Văn Hoành, cấp phó của ông Hoàng. Trong bộ hóa đơn chứng từ khi giao hàng cũng không có giấy tờ chứng nhận số hàng được nhập khẩu, thiếu giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Điều này chứng tỏ toàn bộ số ĐKĐT đó không phải là hàng nhập từ nước ngoài. Ông Hoàng cho rằng, việc phát hiện khuất tất từ bộ chứng từ là không khó nhưng ông không có thời gian để xem xét, lại tin tưởng cấp dưới nên đã chấp nhận nhận hàng và duyệt chi trả tiền. “Cho đến khi sự việc đổ bể thì tôi mới biết 312.000 ĐKĐT được lắp ráp trong nước”, ông Hoàng tiếp tục phân trần.

Sau nhiều lần gặng hỏi tại sao phải chia thành 14 hợp đồng, ký liên tiếp trong vòng một năm mà không rút ngắn bớt để tiết kiệm thời gian, chi phí, bị cáo Lê Minh Hoàng không trả lời trực tiếp mà giải thích lòng vòng, HĐXX nhắc: “HĐXX nhắc cho bị cáo biết, nếu là 10 hợp đồng thì giá trị một hợp đồng có thể vượt lên 15 tỉ đồng. Chia thành 14 hợp đồng là “xé” giá trị của các hợp đồng ra, giá trị tất cả các hợp đồng đều dưới 15 tỉ để nằm trong “sự chủ động” của công ty Điện lực thành phố theo phân cấp của EVN".