Quá tin cấp dưới (!?)

Là lãnh đạo của Công ty Điện lực TPHCM nhưng tại tòa, ông Lê Minh Hoàng (nguyên giám đốc) khai chỉ biết nhắm mắt ký bừa, còn ông Lê Văn Hoành (nguyên phó giám đốc) thì tỏ ra “lơ ngơ”

Ngày 19-5, ngày thứ hai của phiên tòa xét xử vụ điện kế điện tử (ĐKĐT), HĐXX đã thẩm vấn hai bị cáo Lê Minh Hoàng và Lê Văn Hoành, nguyên giám đốc và phó giám đốc Công ty Điện lực TPHCM, xung quanh những sai phạm trong việc thay đổi số lượng và nâng giá ĐKĐT so với kế hoạch đấu thầu được phê duyệt mà không báo cáo Tập đoàn Điện lực VN (EVN)...


Giám đốc ký đại


Bị cáo Lê Minh Hoàng là người trả lời thẩm vấn trước tiên. Mặc dù thừa nhận toàn bộ sai phạm mà cáo trạng đã truy tố nhưng bị cáo Hoàng tránh né, không đi vào bản chất vụ việc. Hỏi vì sao đã được EVN duyệt 40.000 chiếc ĐKĐT với đơn giá 340.000 đồng/chiếc (theo đề xuất của chính Công ty Điện lực TPHCM), nhưng khi triển khai thực hiện lại chỉ mua 10.000 chiếc với đơn giá 580.000 đồng/chiếc?

Bị cáo Hoàng trả lời: “Do lúc đó nhu cầu chưa cần số lượng lớn (40.000 chiếc), còn việc tăng giá là do có gắn thêm con chíp của bộ phận phát sóng và giá này là chấp nhận được vì... rẻ hơn thị trường thế giới”.

Dù nói chưa có nhu cầu, nhưng chỉ 18 ngày sau, khi hợp đồng mua 10.000 chiếc ĐKĐT vừa ký xong (30-1-2004), chưa nhận hàng, ông Hoàng lại ký tiếp hợp đồng thứ hai vào ngày 18-2-2004 và liên tục những tháng sau đó (có tháng ký 2 hợp đồng) ký nhiều hợp đồng khác (tất cả 11 hợp đồng do ông Hoàng ký, 3 hợp đồng do ông Lê Văn Hoành ký theo ủy quyền của ông Hoàng, mỗi lô hàng có giá trị từ 14,1 đến 14,6 tỉ đồng). Lý giải về điều này, ông Hoàng cho rằng: “Mua để... trang bị cho năm sau”. Bị cáo Hoàng thừa nhận do chủ quan nên có thiếu sót khi không làm tờ trình cho EVN xin thay đổi số lượng và giá cả.

img
Các bị cáo tại phiên tòa ngày 19-5


HĐXX đặt câu hỏi: “Vì sao trong một thời gian ngắn, cùng một bên mua- bên bán, cùng chủng loại hàng hóa và số lượng hàng cũng tương đương nhau..., nhưng lại làm đến 14 hợp đồng mà không phải là 2, 3 hay con số khác?”. Bị cáo Hoàng phân trần: “Tất cả các hợp đồng đều dựa theo yêu cầu từ các đơn vị điện lực đưa lên. Tòa đặt câu hỏi như thế, bị cáo không biết trả lời sao”.

Chủ tọa chất vấn tiếp: “Bị cáo thừa nhận EVN phân cấp cho Công ty Điện lực TPHCM có quyền mua sắm gói thầu dưới 15 tỉ đồng (không chờ phê duyệt). Phải chăng đó mới chính là lý do để chia nhỏ các gói thầu?”. Bị cáo Hoàng đã không trả lời câu hỏi này.


Về vấn đề xét thầu và công nhận nhà thầu Linkton Singapore (L.S) trúng thầu trong khi hồ sơ dự thầu, năng lực sản xuất của nhà thầu không đạt yêu cầu, bị cáo Hoàng cho rằng vì quá tin tưởng cấp dưới, hơn nữa không có thời gian nên không xem xét kỹ hồ sơ.

Việc trả tiền cho Linkton Vina (L.V) thay vì L.S là do nhà thầu yêu cầu và điều này không sai với thông lệ quốc tế. Bị cáo cũng cho rằng không hề biết 312.000 chiếc ĐKĐT giả được lắp đặt ở VN, tuy nhiên theo bị cáo, “chất lượng của các ĐKĐT này đạt yêu cầu, chỉ là nhãn mác không đúng, gây hiểu lầm cho người tiêu dùng (?!).

Nếu dựa trên các căn cứ mà cáo trạng nêu và truy tố bị cáo tội cố ý làm trái thì không có gì oan nhưng quả thật trong thâm tâm, bị cáo không hề cố ý làm trái để gây thiệt cho Nhà nước”. 


Ông phó “lơ ngơ”


Buổi chiều cùng ngày, HĐXX dành thời gian thẩm vấn bị cáo Lê Văn Hoành về việc tổ chức đấu thầu 10.000 chiếc ĐKĐT với tư cách là tổ trưởng tổ chuyên gia và việc ký duyệt mua trực tiếp 287.000 ĐKĐT, ký phiếu chi chuyển tiền trả cho L.V. Trong khi trả lời, bị cáo Hoành đã vòng vo, không đi vào trọng tâm câu hỏi khiến nhiều lần vị chủ tọa lưu ý bị cáo.


Theo bị cáo Hoành, trong quá trình xét thầu, là tổ trưởng tổ chuyên gia nhưng bị cáo không chủ động thực hiện hành vi sai phạm mà bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan. Thông qua báo cáo của nhóm kỹ thuật, bị cáo biết các ĐKĐT này có vấn đề về biên độ sai sót rộng, khó điều chỉnh về vị trí 0, màn hình hiển thị 6 chứ không phải 5 ký tự.

Tuy nhiên, nhóm tài chính thương mại pháp lý lại không báo cáo gì (bị cáo không biết vì sao dù trực tiếp quản lý). Chỉ khi đã chọn nhà thầu L.S, phòng hợp tác quốc tế và xuất nhập khẩu mới đưa biên bản tổng hợp cho bị cáo ký. Hơn nữa, bị cáo cũng không được đọc các văn bản pháp lý của Nhà nước, các quy định về việc đấu thầu và tư liệu về L.S do... không được ai cung cấp để đọc.

Vì thế, bị cáo không biết L.S không có giấy phép sản xuất hàng ĐKĐT cũng không biết họ có đủ điều kiện để tham gia đấu thầu hay không(?).


Sai phạm của bị cáo chỉ là do quá tin tưởng vào cấp dưới là những chuyên gia có kinh nghiệm trong việc xét thầu; không theo sát, kiểm tra, đọc kỹ hồ sơ để phát hiện những sai sót mà cấp dưới cố tình không báo cáo. Việc ký duyệt mua trực tiếp 287.000 ĐKĐT là theo kế hoạch mà giám đốc đã duyệt và việc ký các ủy nhiệm chi là theo phân công của ban giám đốc.

Từ những yếu tố trên, bị cáo Hoành cho rằng: “chỉ phạm tội thiếu tinh thần trách nhiệm, không phải tội cố ý làm trái như cáo trạng cáo buộc”. Điều ngạc nhiên là dù “không biết gì” nhưng vị phó giám đốc này có thâm niên trong nghề đã 37 năm và làm quản lý từ năm 1991.


Hôm nay, 20-5, phiên tòa tiếp tục phần thẩm vấn các bị cáo.

Nếu biết thì...

Nếu việc ở cơ quan bị cáo Hoành “không biết gì”, thì việc cho L.S thuê hai căn nhà của chính vợ chồng bị cáo trên đường Hồ Văn Huê  (trước khi L.S trúng thầu một tháng), bị cáo cũng “lơ ngơ”.

“Vợ con bị cáo nói ký vào hợp đồng cho thuê nhà thì bị cáo ký thôi. Theo hợp đồng L.S thuê nhà để ở và làm việc. Chuyện L.V sản xuất 312.000 ĐKĐT giả ở đây thì bị cáo chịu, không biết được vì cho thuê rồi bị cáo không đến đó. Nếu biết thì ngày nay bị cáo đã không đứng ở đây”-bị cáo Hoành phân bua.


Có lẽ hết chịu nổi với cách trả lời “lơ ngơ” của vị phó giám đốc, chủ tọa phiên tòa đã cảm thán: “Một phó giám đốc mà văn bản pháp lý không đọc, tài liệu trình ký không đọc, ở nhà vợ con đưa ký cũng  không đọc để rồi hỏi đến cái gì cũng không biết. Vậy bị cáo biết cái gì?”.  Bị cáo Hoành im lặng.