112 -Đề án đỡ “bết” nhất trong 14 đề án

(NLĐ) - Đề án 112 nằm trong 14 đề án, dự án trọng điểm để thực hiện Chỉ thị 58–CT/TW ngày 17-10-2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đây là dự án “tai tiếng” nhất. Nhưng nhìn lại thì sự thật còn đáng giật mình hơn nhiều, bởi 112 vẫn là một trong số ít đề án được coi là thực hiện tốt nhất và triển khai thực hiện được nhiều nhất.

Triển khai Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị giai đoạn 2001- 2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình hành động và kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) đến năm 2005. Chương trình và kế hoạch này đã đề xuất xây dựng 4 chương trình trọng điểm và 14 đề án, dự án trọng điểm.

Bốn chương trình trọng điểm gồm: chương trình trọng điểm “Phát triển nguồn nhân lực về CNTT” do Bộ GD-ĐT chủ trì nhằm đào tạo các chuyên gia, chuyên viên, lập trình viên chất lượng cao ở mọi trình độ; chương trình “Xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng viễn thông và Internet” do Tổng cục Bưu điện (nay là Bộ Thông tin - Truyền thông) chủ trì;

chương trình “Xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm” do Bộ KH-CN-MT chủ trì; chương trình “Xây dựng và phát triển công nghiệp phần cứng” do Bộ Công nghiệp chủ trì.

Phần lớn bị ách tắc, hiệu quả thấp

Tổng kết giai đoạn 2001-2005, mới đây Bộ Bưu chính - Viễn thông (BC-VT) đã khẳng định: Việc triển khai các chương trình, đề án và dự án trọng điểm trong chương trình hành động và kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT đến năm 2005 còn lúng túng, phần lớn bị ách tắc, hiệu quả thấp.

Trong số 4 chương trình trọng điểm này, mới chỉ xây dựng và phê duyệt được chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT.

Việc triển khai chương trình này cũng gặp khó khăn do không có cơ chế thực hiện rõ ràng. Trong số 14 đề án và dự án trọng điểm, chỉ có đề án tin học hóa hoạt động các cơ quan Đảng (Đề án 47) và các dự án hiện đại hóa ngân hàng, hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thông tin điện tử về luật... được triển khai khá tốt, có kết quả rõ ràng. Số còn lại đều lúng túng, ách tắc.

Mục tiêu và phạm vi của một số dự án không được xác định rõ. Hiệu quả triển khai các đề án và dự án đều thấp, giải ngân chậm do đầu tư nhỏ giọt. Các hệ thống manh mún, thiếu tính phối hợp, khả năng tích hợp thấp.

Thậm chí, có dự án như hệ thống thông tin điện tử về văn hóa - xã hội đến nay vẫn chưa được xây dựng xong.

Mặc dù nằm trong kế hoạch 2001-2005, dự án thông tin điện tử về văn hóa - xã hội mãi đến cuối năm 2004 mới có quyết định giao Trung tâm Tin học của bộ làm chủ đầu tư dự án. Đến cuối năm 2005 mới có quyết định chỉ định Viện CNTT (Bộ Quốc phòng) làm đơn vị tự vấn lập dự án. Dự kiến dự án sẽ được xây dựng xong và trình thẩm định trong năm... 2007 này(!).

Dự án tổng thể “Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở VN giai đoạn 2004-2008” gồm 9 tiểu dự án do Bộ KH-CN chủ trì. Việc triển khai bao gồm xây dựng cơ chế, chính sách, ứng dụng và đào tạo phần mềm nguồn mở trong các trường ĐH, CĐ, THCN, dạy nghề và ứng dụng phần mềm nguồn mở tại một số bộ, TP lớn và phát triển một số phần mềm cốt lõi, xây dựng chuẩn, hệ thống chứng chỉ và đào tạo chuyên gia trình độ cao.

Tuy nhiên, sau khi giá trị đầu tư tính đến hết năm 2005 đã lên đến 2,3 tỉ đồng thì Bộ BC-VT đánh giá: Nhìn chung dự án triển khai rất chậm, gần như bế tắc và chưa có kết quả thực tiễn.

Tụt hậu

Sau 5 năm thực hiện, CNTT vẫn chưa trở thành một động lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội. “Ngoại trừ lĩnh vực viễn thông đạt mức trung bình khá, CNTT của VN vẫn còn tụt hậu khá xa so với các nước tiên tiến trong khu vực” - Bộ BC-VT tổng kết.

“Mục tiêu được Bộ Chính trị đề ra tới năm 2010 CNTT Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực vẫn là một thách thức rất lớn. Về công nghiệp phần mềm, các chỉ tiêu 500 triệu USD sản lượng phần mềm, trong đó 200 triệu USD xuất khẩu, ước tính mới đạt tương ứng 45% và 35% so với mục tiêu đề ra.

Việc ứng dụng CNTT chưa có tác dụng đổi mới hẳn lề lối làm việc, chưa phục vụ tốt công tác lãnh đạo, quản lý và điều hành của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Việc hướng dẫn các chính sách và thủ tục hành chính trực tuyến thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp còn rất hạn chế.

img

Nguyên nhân của sự trì trệ này được chỉ rất rõ. Đó là công tác quản lý vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển, môi trường pháp lý chưa đáp ứng được các nhu cầu bức thiết về ứng dụng và phát triển CNTT.

Mô hình Ban Chỉ đạo quốc gia trong thời gian qua không đủ thẩm quyền giải quyết các vấn đề về kế hoạch và đầu tư, các vấn đề có tính liên bộ, liên chương trình như tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước và thương mại điện tử, các vấn đề cần sự phối hợp, cân đối chung giữa các cơ quan của Đảng, Quốc hội và Chính phủ và các vấn đề cấp bách hay ưu tiên đặc biệt.

Phương châm “tháo bỏ mọi nhận thức và quy định không phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất” cho việc ứng dụng và phát triển CNTT chưa được quán triệt đầy đủ, chưa xây dựng được các cơ chế đặc thù đối với việc quản lý các dự án ứng dụng CNTT.

Việc phân bổ vốn cho các dự án đều nhỏ giọt và dàn trải, chưa thực sự quán triệt chủ trương ưu tiên đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT. Cách phân bổ đầu tư ngân sách chưa hợp lý, không theo trọng điểm và nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch, mang màu sắc cảm tính của cơ chế “xin - cho”.

Tính chất “xin – cho” này thể hiện rõ trong báo cáo của Bộ KH-ĐT: Trong giai đoạn 2001-2005, tất cả các chương trình, dự án của kế hoạch tổng thể được phân bổ trong mục “Đề án 95 và phần mềm nguồn mở” với tổng đầu tư 220 tỉ đồng bên cạnh các Đề án 112 và Đề án 47.

Phần lớn các dự án được đầu tư dưới danh nghĩa “Đề án 95” không có trong danh mục chương trình, dự án trọng điểm của kế hoạch tổng thể.

Bộ quản lý về CNTT lại tụt hạng ứng dụng CNTT

(NLĐ) - Ngày 14-9, tại hội nghị về ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông CNTT ở Ninh Thuận do Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT (gọi tắt là ban chỉ đạo) và Hội Tin học VN tổ chức đã công bố báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT - truyền thông VN năm 2006. Theo đó, Bộ BC-VT (nay là Bộ Thông tin - Truyền thông) được xếp hạng chung ở vị trí thứ tư (sau Bộ GD-ĐT, Tài chính, Thương mại), tụt hai bậc so với năm 2005.

Còn xếp hạng theo nhóm chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật, Bộ BC-VT cũng đứng thứ ba, sau Bộ GD-ĐT và Bộ Công nghiệp. Bộ BC-VT chỉ giữ vị trí số 1 ở chỉ tiêu hạ tầng nhân lực.

Ở chỉ tiêu ứng dụng CNTT, Bộ BC-VT đứng vị trí thứ 9 và vị trí thứ 23 ở chỉ tiêu môi trường tổ chức và chính sách.

Đối với các địa phương, TPHCM dẫn đầu ở xếp hạng chung nhưng lại ở vị trí thứ hai (sau Hà Nội) về hạ tầng kỹ thuật.

Đặc biệt ở chỉ tiêu hạ tầng nhân lực, TPHCM lại ở vị trí thứ ba, sau Hà Nội và tỉnh Thái Nguyên.

Về chỉ tiêu ứng dụng CNTT và sản xuất-kinh doanh CNTT và môi trường tổ chức và chính sách, TPHCM dẫn đầu bảng xếp hạng.

Ở bảng xếp hạng các địa phương, có 20 tỉnh, TP ở nhóm khá, 20 địa phương ở nhóm trung bình và 24 địa phương nhóm thấp.

T.Dũng