Bạch chỉ “tàng hình”

Có khi mất cả tuần, cả tháng mới viết xong một báo cáo, công văn bằng bạch chỉ mà muốn đọc được, phải dùng một loại hóa chất bôi lên

Năm nay đã 82 tuổi, ông Phan Phát Phước (Phan Kim Thảo, còn gọi là Tám Đen, Tám Thảo) đã quên nhiều chuyện nhưng với công việc viết bạch chỉ phục vụ ông Lê Duẩn, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (sau này là Trung ương Cục miền Nam), giai đoạn 1956-1960 ở nội thành Sài Gòn, ông vẫn nhớ mãi.

Ngụy trang

Ông Tám Thảo cho biết hồi ấy, khó nhất là tạo ra một nơi ở hợp pháp để làm bình phong mới có thể hoạt động được trong lòng địch. Giữa lúc đó, cơ sở Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ trong nội thành được gầy dựng ở số 29 Huỳnh Khương Ninh (nay thuộc phường Đa Kao, quận 1 - TPHCM). Một gia đình công chức hạng trung cũng được thành lập để làm bình phong tại đây.

Khoảng giữa năm 1956, ông Lê Duẩn về ở tại 29 Huỳnh Khương Ninh. Ngày ngày, ngoài phục vụ cơm nước, ông Tám Thảo còn chép lại bằng bạch chỉ những bản thảo mà ông Lê Duẩn viết. “Ban ngày đem xuống hầm giấu, đêm lại lấy lên chép tiếp. Tôi phải chép nhiều lần, liên tiếp nhiều đêm vì có nhiều đoạn anh Ba (Lê Duẩn) sửa đi, sửa lại” - ông Tám Thảo kể.

Nghe chúng tôi thắc mắc về cách viết bạch chỉ, ông Tám Thảo giải thích: Bạch chỉ là viết chữ trên giấy mà muốn đọc được phải dùng một loại hóa chất bôi lên. Chỉ vào các khoảng trắng giữa những dòng chữ trên tờ báo, ông cho biết: “Chữ bạch chỉ sẽ được viết vào giữa những khoảng trắng này. Hồi đó, chúng tôi viết vào những cuốn tiểu thuyết, sách học trò, truyện… xuất bản công khai để ngụy trang”.

Kỳ công

Bề ngoài, ông Tám Thảo đóng vai người làm bếp, ngày ngày xách giỏ đi chợ nhưng công việc chính là tiếp nhận tài liệu và viết lại bằng bạch chỉ, bảo quản, cất giấu tài liệu... Mỗi lần đi chợ, ông lại tranh thủ mua vài trái ngũ bội.
“Trái ngũ bội ngâm nước tạo ra một chất lỏng màu trắng dùng viết bạch chỉ. Ban đêm dưới ánh đèn, chúng tôi lấy nước đó để viết những hàng chữ li ti xen giữa các dòng chữ in của trang sách. Viết chữ nào thì chữ đó lặn mất nên phải viết thật nhanh và chính xác vì sai cũng không biết đâu mà sửa” - ông nhớ lại.

Theo ông Tám Thảo, khi viết bạch chỉ phải để ngược ánh sáng mới đúng hàng, chữ sau không đè chữ trước; phải để tầm mắt ngang hoặc thấp hơn cuốn sách mới thấy bóng chữ, viết cho chính xác. “Viết xong, sách được đóng gói đưa theo đường bí mật, đến các liên tỉnh ủy, các xứ ủy viên. Chép trong đêm bí mật, dòng chữ lặn mất tăm, phải dùng một hóa chất bôi lên mới hiện ra” - ông hào hứng.

img
Sau những năm tháng viết bạch chỉ, đôi mắt của ông Tám Thảo nay không còn tinh anh nữa
Công việc viết bạch chỉ thời ấy gặp vô vàn khó khăn vì lúc nào cũng dòm  trước, ngó sau. Để viết xong một công văn, báo cáo khoảng 10 trang phải mất cả tuần, thậm chí cả tháng. Ngoài ra, viết bạch chỉ rất mỏi mắt nên không thể làm liên tục thời gian dài. Căn nhà 29 Huỳnh Khương Ninh có cửa sau thông ra hẻm vòng vèo nên ông Tám Thảo thường chọn nhà bếp để viết bạch chỉ, vừa phù hợp với việc “anh nuôi” vừa dễ xoay xở nếu có biến. “Nhiều lần đang viết, nghe có tiếng động lạ là tôi quăng tài liệu xuống hầm giấu, sau đó viết lại từ đầu vì không biết mình viết đến chỗ nào” - ông kể.

Có lẽ niềm vui, niềm vinh hạnh lớn nhất trong đời hoạt động của ông Tám Thảo là được giao nhiệm vụ trực tiếp viết bạch chỉ Đề cương cách mạng miền Nam Việt Nam do ông Lê Duẩn chấp bút. Phải chép đi, chép lại vì bản thảo sửa chữa nhiều lần, cuối cùng, đề cương cũng được ông viết bạch chỉ sạch sẽ gửi các nơi vào tháng 8-1956.

Rời Sài Gòn cuối những năm 1960, ông Tám Thảo về Văn phòng Trung ương Cục miền Nam nhận nhiệm vụ tại Khối Hành chính - Tổ chức. Lúc bấy giờ, việc viết bạch chỉ được giao lại cho bà Dương Ngọc Mỹ (Năm Mỹ), bà Đặng Hồng Nhựt (Út Nhựt), ông Trần Quang Đức (Năm Đức)… “Viết bạch chỉ ở khu căn cứ dễ thở hơn so với hồi anh Tám Thảo vì không cần phải dòm trước, ngó sau” - bà Út Nhựt cho biết.

Bà Năm Mỹ kể đến thời của bà không còn viết bạch chỉ trên sách học trò hay tiểu thuyết mà viết trên giấy mỏng, có khi giấy dầu. Ban ngày thì dùng ánh nắng mặt trời phản chiếu để viết, còn ban đêm dùng đèn. Những tờ giấy dầu được xếp lại gọn gàng để vận chuyển hoặc bó vào chân, cũng có thể gói trà, bánh để ngụy trang…

Hộp quẹt bất ly thân

Năm 1968, tình hình rất căng thẳng nên có rất nhiều công văn từ Trung ương Cục miền Nam gửi các nơi. “Công văn được phân loại rõ ràng, cái nào công khai, cái nào qua cơ yếu, điện đài, cái nào phải viết bạch chỉ. Anh em văn thư hầu như ai cũng tập trung cao độ. Nhiều khi trong giấc mơ, tôi còn thấy mình đang dò tài liệu” - bà Năm Mỹ kể.

Ông Năm Đức cho biết các chiến sĩ văn thư, viết bạch chỉ lúc nào cũng kè kè xắc-cốt, bên trong luôn có 3 thứ bất ly thân: tài liệu, hộp quẹt và súng ngắn. “Lỡ bị địch phát hiện, chúng tôi dùng hộp quẹt hủy tài liệu và dùng súng ngắn để tự vệ” - ông lý giải.

Kỳ tới: Chuyện những “ông già”