Bài toán giá sữa: Thuế không là mấu chốt
Nguyên nhân giá sữa cao không phải ở thuế mà ở khâu phân phối
Câu chuyện về thuế nhập khẩu sữa đang được đặt lên bàn Thủ tướng Chính phủ vì các bộ, ngành liên quan không thống nhất được phương án cuối cùng.
Vẫn chưa có tiếng nói chung
Trong phương án trình Thủ tướng, Bộ NN-PTNT đề nghị điều chỉnh tăng thuế rất mạnh để cứu ngành chăn nuôi bò sữa. Cụ thể là đối với sữa và kem chưa cô đặc tăng từ 5% lên 18%; sữa và kem cô đặc đã pha thêm đường hoặc chất ngọt khác tăng từ 3%-7% lên 10%-34%. Đây là mức thuế tương đương được với thuế suất VN cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007.
Bộ Tài chính lại cho rằng không có lý do gì để tăng thuế nhập khẩu sữa và nếu tăng, doanh nghiệp sẽ thừa cơ “té nước theo mưa”, ảnh hưởng đến chính sách bình ổn thị trường. Sản phẩm cạnh tranh với sữa tươi trong nước hiện nay là sữa tươi chưa chế biến và sữa tươi uống liền nhập ngoại. Quan điểm này xuất phát từ thực tế ngành chăn nuôi trong nước mới chỉ cung cấp được 20% nguyên liệu sữa, còn lại phải nhập khẩu. Số liệu của hải quan cũng cho thấy kim ngạch nhập sữa tươi vào VN năm 2008 chỉ đạt 5,2 triệu USD, kim ngạch nhập sữa bột là 320 triệu USD. Do đó, Bộ Tài chính chỉ đồng ý tăng thuế đối với sữa tươi nhập khẩu, có thể tăng ở mức từ 5% hiện nay lên 15%. Đối với sữa bột vẫn giữ nguyên mức thuế áp dụng từ tháng 10-2007 đến nay (từ 10%-15%).
Không đồng tình với quan điểm của Bộ Tài chính, Bộ NN-PTNT cho rằng giữ nguyên thuế nhập khẩu sữa bột chỉ làm tăng thêm lợi ích cho doanh nghiệp kinh doanh sữa vì nguyên liệu chủ yếu của doanh nghiệp là sữa bột nhập khẩu. Việc tăng thuế cũng khó làm tăng giá bán trong nước vì so với thời điểm điều chỉnh giảm thuế từ năm 2007 đến nay giá sữa bột thế giới đã giảm một nửa, từ khoảng 4.600-5.200 USD/tấn còn 2.000-2.600 USD/tấn, doanh nghiệp vẫn có lãi lớn không cần phải tăng giá.
Chỉ doanh nghiệp có lợi
TS Vũ Đình Ánh, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính), cho rằng thuế không phải là mấu chốt để giải bài toán giá sữa. Hàng rào thuế chỉ được dựng lên để bảo hộ sản xuất trong nước khi bản thân doanh nghiệp trong nước có khả năng làm được, có triển vọng đảm đương tốt. Với ngành sữa hiện nay chưa xuất hiện đầy đủ các điều kiện để được bảo hộ. Cung trong nước chưa đáp ứng đủ cầu, nếu ngăn nhập khẩu thì giá thành chung sẽ đội lên. Khi người dân kêu giá sữa ngoại cao có nghĩa là doanh nghiệp trong nước có cơ hội làm ra các sản phẩm thay thế với giá thấp hơn, chất lượng gần tương đương nhưng doanh nghiệp lại không nắm được cơ hội này. Về mặt nguyên tắc, nên duy trì thuế để đạt được hai mục tiêu là duy trì mặt bằng giá hiện tại (nếu không có nhu cầu lớn về mặt thu ngân sách) và tạo sức ép để doanh nghiệp trong nước giảm chi phí và giá bán.
Theo ông Ánh, nguyên nhân giá sữa cao không phải ở thuế mà ở khâu phân phối. Bộ Công Thương chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, phân phối và tiêu dùng bằng một cơ chế ràng buộc giữa ba bên. Do đó mới có chuyện người tiêu dùng xót của vì giá cao, nông dân than không có lãi, chỉ có doanh nghiệp lẳng lặng kiếm lời. Nếu tăng thuế, doanh nghiệp quay lưng không mua sữa của nông dân mà nhập sữa bột để chế biến sữa hoàn nguyên thì còn tệ hơn. Phải giảm nhẹ ảnh hưởng vào nông dân và người tiêu dùng bằng chọn điểm tác động là khâu phân phối. “Bài toán của giá sữa là bài toán kết cấu chứ không phải thuế”- ông Ánh phân tích.