Dân số VN: Chưa giàu đã già !

Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số nước ta hiện nay là 85,8 triệu người, tăng 9,5 triệu người so với năm 1999. Tuổi thọ trung bình của người dân là 72,8 tuổi, tăng 3,7 tuổi ở nam giới (từ 66,5 năm 1999 lên 70,2 năm 2009) và 5,5 tuổi ở nữ giới (từ 70,1 tuổi lên 75,6 tuổi)

Thống kê mới nhất của cuộc tổng điều tra tính đến ngày 1-4-2009 được công bố sáng 31-12, tại Hà Nội. Đây cũng là cuộc tổng điều tra về dân số và nhà ở có quy mô lớn nhất từ trước đến nay.


Tỉ số giới tính tăng cao bất thường


Theo ông Đỗ Thức, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 1999-2009, tỉ lệ tăng dân số bình quân năm là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước. Mức sinh của VN tiếp tục giảm trong giai đoạn 1999- 2009.

So với tổng điều tra năm 1999, tỉ suất sinh của trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm từ 2,3 con/phụ nữ xuống dưới mức sinh thay thế là 2 con/phụ nữ. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt về mức sinh giữa các vùng miền. Trong đó, khu vực thành thị là 1,8 con/phụ nữ, khu vực nông thôn là 2,15 con/phụ nữ. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 26,2 và của nữ là 22,8.


Tỉ số chênh lệch giới tính ở VN liên tục tăng. Năm 1999, tỉ lệ này là 108 bé trai/100 bé gái thì nay là 111 bé trai/100 bé gái, thậm chí có địa phương tỉ lệ chênh lệch lên tới 131/100. Nhiều chuyên gia nhận định tỉ số giới tính khi sinh tại VN đang tăng một cách bất thường, đặc biệt từ năm 2006.

Nếu tình trạng trên tiếp tục kéo dài có thể sẽ trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong tương lai, khoảng 20 năm nữa, nhiều đàn ông VN sẽ không tìm được vợ.


Bên cạnh đó, VN đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, thời kỳ mà nhóm dân số trong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc. So với cuộc tổng điều tra năm 1999, tỉ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33% (năm 1999) xuống còn 25% (2009).

img
Năm 2009, chênh lệch giới tính ở VN tiếp tục tăng, với tỉ lệ 111 bé trai/100 bé gái. Ảnh: DUY ANH


Ngược lại, tỉ trọng dân số của nhóm 15-19 tuổi tăng từ 58% lên 66% và nhóm dân số 60 tuổi trở lên tăng từ 8% lên 9%. Điều này đặt ra thách thức rất lớn với VN, vì theo các chuyên gia, quá trình già hóa dân số của chúng ta đến sớm hơn dự kiến.


Thông thường, các nước trên thế giới phải mất nhiều thập kỷ mới chuyển từ giai đoạn cơ cấu dân số trẻ sang giai đoạn già hóa dân số trong khi VN chỉ mất có 3 năm (từ 2005 sang 2008). Như vậy, VN là một trong số ít nước trên thế giới dân số già khi chưa giàu, nghĩa là chưa tích lũy được gì thì đã già.


Theo thống kê, chỉ số già hóa của dân số VN tăng 11% (từ 24,5% lên 35,9%) sau 10 năm. Chỉ số già hóa của VN hiện cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (30%).


Cư dân đô thị ngày càng tăng


10 năm qua đã có sự chuyển dịch ngày càng nhiều giữa người dân nông thôn lên thành thị. Nếu như năm 1999 chỉ có 23,7% dân số sống ở thành thị thì nay con số đó đã gần 30%. Trong thời kỳ 1999- 2009, dân số khu vực thành thị tăng 7,3 triệu người (chiếm 77%).

Đông Nam Bộ là vùng có mức đô thị hóa cao nhất, nhanh nhất với 57,1% dân số thành thị (năm 1999 là 55,1%). Trong khi đó, đồng bằng sông Hồng có mức đô thị hóa thấp hơn với 29,6% dân số thành thị.


Theo kết quả cuộc tổng điều tra, dân số VN phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng: hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có tới 43% dân số của cả nước sinh sống. Ngược lại, hai vùng trung du, miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên lại chỉ chiếm 19% dân số.

Số liệu cũng cho thấy Đông Nam Bộ là vùng có tỉ lệ tăng dân số cao nhất với 3,2%/năm; Tây Nguyên là vùng có tỉ lệ nhập cư rất cao, do vậy dân số đã tăng nhanh với tỉ lệ bình quân 2,3%/năm.


Kết quả điều tra này cũng phát hiện cứ 10.000 hộ thì vẫn còn 5 hộ không có nhà ở. Trong số những hộ có nhà ở, 93% là nhà riêng, còn lại là nhà thuê hoặc mượn của tư nhân. Diện tính bình quân đầu người là 18,6 m2, cao nhất là Đông Nam Bộ (22 m2) và thấp nhất là vùng Tây Nguyên (15,3 m2).  

GDP tăng 5,32%

Theo công bố của Tổng cục Thống kê: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2009 tăng 5,32%, tốc độ tăng trưởng này tuy vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,18% của năm 2008 nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% kế hoạch đề ra.

Phân tích sâu hơn (tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước của quý III và IV/2009 tăng cao hơn cùng kỳ năm 2008) cho thấy nền kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm tăng trưởng.

Điều này chứng tỏ các chính sách, giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế triển khai trong năm qua vừa phù hợp với tình hình thực tế, đã và đang phát huy hiệu quả tích cực.

Tuy nhiên, những khó khăn, tồn tại vẫn là thách thức cho đất nước là tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, tăng khối lượng các nguồn lực (nhất là vốn đầu tư) nhưng chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả.


Kết quả thu chi ngân sách cũng được công bố. Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến giữa tháng 12-2009 đạt xấp xỉ dự toán năm, chi ngân sách ước bằng 96,2% dự toán năm. Bội chi ngân sách Nhà nước bằng 7% GDP.