Đêm qua sân trước...

1. Cứ nghĩ mà thèm được như người nhà quê, cuộc sống tuy không phong lưu là mấy, nhiều khi phải lao lực mưu sinh nhưng bù lại tâm hồn sao mà thuần chất quá. Dẫu gia cảnh khó nghèo, có khi nhà dột cột xiêu mà dường như ai cũng có một mảnh vườn, một khoảnh đất để mỗi sớm chân bước ra, vươn vai ngửa mặt mà nối hơi thở với trời cao.

Chở hoa về phố là hình ảnh mà chúng ta thường thấy vào những ngày Tết. Nhưng ở nhà quê, trong vườn hoa cứ nở quanh năm, người và hoa là đôi bạn tri âm cùng hiện diện trong ngày thường mộc mạc.

Có một loài hoa mà người miền Trung quê tôi luôn đón chờ như một nghi lễ, đó là hoa mai. Nói đón chờ bởi hoa mai không nở vào ngày thường mà đợi đến dịp Tết mới bung hoa. Nhớ Tết xưa, vào ngày mùng một, ba tôi thường chở tôi về quê nội thăm từ đường gia tộc.
 
Ngày ấy, hình như Tết năm nào ông cố tôi cũng làm một bài thơ Xuân, nét chữ mực tàu viết nắn nót trên tờ giấy trắng rồi ép trong khung kính đặt lên bàn thờ. Năm đó, tôi được đọc bài thơ vịnh hoa mai, đại khái như thế này: “Hoa mai tô đẹp cho đời/ Vì Xuân vẫn giữ vẹn lời nguyền xưa/ Trải bao dãi nắng dầm mưa/ Mà hoa vẫn nở đúng vừa ngày Xuân”...

Và, trong buổi sớm mùa Xuân năm đó, tôi ngồi nghe ông cố giảng giải cho sự chung tình của hoa mai, cao hơn sự chung tình là đạo sống.

2. Từ miền Trung trở vào miền Nam, hình ảnh hoa mai ngày Tết trở nên rất quen thuộc. Lang thang ở làng quê vào những ngày giáp Tết, lòng tôi lâng lâng cùng những cánh hoa mai.

Sắc hoa vàng rực trong nắng vàng ươm, cùng phối ngẫu với vàng óng rơm rạ, vàng tươi nón lá, vàng ngà bờ tre... Giữa các sắc vàng ngày Tết, màu vàng hoa mai nổi bật lên, lung linh một hồn vía đậm đà. Đã xa quê nhiều năm nhưng cứ mỗi Tết về, tôi lại như mộng du cùng cái màu vàng ấy.


Ở thành phố, sau bao năm bôn ba, tôi về sống ở Làng Mai. Cái tên Làng Mai là do tôi khơi gợi lại một tên làng mà vốn thường người dân ở đây vẫn gọi là Làng Mai Hiệp Bình Chánh, hay Làng Mai Thủ Đức. Trước khi tôi về đây thì đất ở Làng Mai thu hẹp dần, vườn trồng mai được phân lô, lấp nền chia bán. Gần 5 năm, dấu vết làng dần lui vào ký ức.


Trong những câu chuyện thời sự thường ngày, chúng ta thường nghe nói về sự biến đổi của khí hậu và những hệ lụy của nó. Còn ở Làng Mai, từ nhiều năm trước, người trồng mai đã phải kêu trời vì sự trái tính trái nết của loài hoa này.

Dường như hoa mai không còn giữ vẹn “lời nguyền” xưa như mấy câu vịnh hoa mai của ông cố tôi ngày trước nữa mà trở nên đỏng đảnh hay khó tính một cách bất thường. Năm thì nở sớm, năm thì nở muộn, mặc cho sự can thiệp của con người.


Vài năm nay, những người còn sống bằng nghề làm vườn ở Làng Mai đã chuyển dần sang trồng hoa sen, hoa súng kiểng. Hoa sen hồng, hoa sen trắng mang bán vào ngày rằm, còn hoa sen tím thì nuôi trong chậu bán quanh năm cho những người có nhu cầu trang trí nhà cửa, vườn tược.
 
Nếu như có một sự lãng quên thì chính người Làng Mai lãng quên cây mai trước tiên, nhưng cuộc sống là như thế, khi cái đẹp không đồng hành với cơm áo gạo tiền.


3. Nói cho công bằng, hoa mai không phải đẹp nhất trong các loài hoa. Ngày càng có nhiều loài đẹp khi hoa ngoại nhập tràn vào nước ta ngày càng nhiều. Tuy nhiên, có một điều gì đó như một nỗi buồn ray rứt, bởi chuyện của hoa mai không chỉ là chuyện của nhan sắc loài hoa mà còn là chuyện của xóm làng người Việt.

“Xuân ruổi trăm hoa rụng/ Xuân đến trăm hoa cười/ Trước mắt việc đi mãi/ Trên đầu già đến rồi/ Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một nhành mai”. Bài kệ nổi tiếng của thiền sư Mãn Giác là một tuyệt bút, đồng thời cũng là một tâm bút nói lên cái tinh cốt người Việt, cùng với hoa mai.


Những vườn mai tạo một nét đẹp làng quê khó phai, những phiên chợ hoa mai tạo một mối giao hòa không chỉ là chuyện mua và bán. Vậy thì, hình ảnh hoa mai đang phai dần đi trong đời sống, trong tâm thức người Việt bắt đầu từ câu chuyện biến đổi khí hậu hay chính từ sự thay đổi của lòng người?