Đời nước

Xuân về, Tết đến, người Việt hay chúc nhau may mắn phát tài: Tiền vô như nước sông Đà/ Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin, công việc làm ăn trôi chảy, thuận buồm xuôi gió. Còn khi nói “được nước, hắn cứ lấn tới”; “chưa giàu mà đã lên nước”, “biết mình kém, hắn bèn xuống nước năn nỉ”... thì rõ ràng để chỉ cách ứng xử của con người.

Có thể nói, tư duy của người Việt luôn có nước và những thực thể liên quan đến sông nước, sông nước chính là con người.

Trong mẫu cấu tạo một từ với vật chứa - nước, dễ thấy nước không có hình dáng cố định, sự gọi tên lệ thuộc vào vật chứa nó, như chai nước, vũng nước... Từ đặc điểm “dễ tính” này, cùng với tính cân bằng của nước, học giả Cao Xuân Huy đã khái quát thành tính “thủy” và coi nó như bí quyết sinh tồn của dân tộc ta.

Cơ thể con người chứa rất nhiều nước. Lượng nước biểu hiện quá trình sống: thân hình tràn trề sức sống, sức lực cạn kiệt, nếu vượt cái ngưỡng bình thường thì bị coi là mập nước. Căn cứ nguồn chất lỏng thoát ra từ cơ thể, ta có nước mắt, nước bọt, nước mũi, nước tiểu, nước nhờn, nước ối. Điều lạ lùng, ta không gọi là nước máu và nước mồ  hôi.
 
img
Ảnh: Duy Anh

Bên cạnh ý niệm “Con người có cố có công, như cây có cội như sông có nguồn”, người Việt hình dung nơi bắt đầu dòng sông cũng chính là xuất phát điểm của con người. Có sự tương thích lạ lùng giữa dòng sông và cơ thể của con người. Trước hết là tư thế nằm ngang, đầu tọa lạc ở vùng cao (đầu nguồn, thượng nguồn); mình là vùng giữa, vùng trung lưu; chân là vùng thấp (cuối nguồn, hạ nguồn). Cách phân chia các tầng lớp xã hội như thượng lưu, trung lưu, hạ lưu bắt nguồn từ đây.

Tư duy của người Việt luôn có nước và những thực thể liên quan đến sông nước

Ta có cách định vị không gian: trên nguồn, lên nguồn đối lập với dưới biển, xuống  biển. Vẫn lấy con người làm chuẩn, với tư thế thẳng đứng, dòng sông là vật chứa, đáy là chân, phần giữa là lòng, phần trên là mặt sông. Khi mặt hướng về biển Đông, bên phải bờ sông là hữu ngạn, bên trái là tả ngạn, chỗ rẽ trái hoặc phải được hình dung là nách sông, vừa rẽ cả trái lẫn phải là cháng hay háng sông. Người Nam Bộ có cách nhân hóa rất lạ: nước bò, nước đứng, nước lăn, nước nằm, nước nhảy, nước rông...

Quan sát cách hình dung về sông nước, ta còn có thể tìm thấy những tư tưởng thú vị. Sông khởi đi từ nguồn, kết tinh của hàng trăm suối, khe, trải qua nhiều khúc đoạn, càng xa nguồn, lực sông càng yếu, cuối cùng thì hòa tan vào biển cả. Đời người chẳng khác mấy. Đời sông có khúc thế này, khúc thế khác; bờ bên lở, bên bồi; nước lúc đục, lúc trong... Đời người cũng không phải lúc nào cũng sông lặng sóng êm, xuôi chèo mát mái mà có khi phải lên thác xuống ghềnh, thuyền xuôi gió ngược, đối mặt sóng to gió lớn, phải lèo lái chèo chống mới có thể vượt qua.

Đặc tính của nước được mở rộng để chỉ dòng huyết thống như dòng họ, dòng giống, dòng dõi, dòng tộc, nối dòng... và xa hơn là dòng điện, dòng âm thanh, dòng thời gian, dòng suy nghĩ và dòng đời. Vì cuộc đời là vật thể chứa nước nên các thuộc tính cụ thể: lên/xuống, trôi/nổi, nổi/chìm, cạn/sâu, đục/trong, lặn/ngập..., thậm chí lăn tăn, đều được dùng cho người và xã hội. Tình cảm là vật chứa, cảm xúc là nước nên mới có cách nói tình cảm dạt dào, lai láng, lắng đọng, dâng cao... Con người ứng xử với sông nước như một quán tính vô thức, di chuyển trên bộ mà vẫn cứ ám ảnh về nó: bến xe, xe đò, lội bộ, quá giang, vàng lướt sóng, xe chạy ngọt nước, lặn lội...

Có lẽ không quá lời khi cho rằng người Việt quan niệm nội tâm là mạch nước, ngôn ngữ là vật chứa nước, tư tưởng là dòng nước chảy.