Hiệp ước Biên giới đất liền VN - TQ: Bảo đảm công bằng, thỏa đáng

Ngày 12-9, ông Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại giao, Trưởng Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới, lãnh thổ Việt Nam (VN) - Trung Quốc (TQ), đã trả lời phỏng vấn báo chí trong nước về một số nội dung của Hiệp ước Biên giới trên đất liền giữa VN và TQ.

. Về cách thức và kết quả đàm phán về biên giới trên đất liền giữa VN và TQ: Theo đúng thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản 1993 (6 nguyên tắc cơ bản để xác định đường biên giới trên đất liền VN - TQ), mỗi bên tự căn cứ vào các văn bản pháp lý nêu trên để vẽ đường biên giới theo sự đánh giá của mình lên cùng một loại bản đồ (gọi là bản đồ đường biên giới chủ trương), sau đó cùng trao cho nhau để đối chiếu, xác định những đoạn biên giới hai bên vẽ trùng nhau và khác nhau.

Qua đối chiếu, hai bên vẽ trùng khớp nhau khoảng 900 km trong tổng số 1.350 km toàn tuyến biên giới. Trong 450 km còn lại có 164 khu vực hai bên có nhận thức khác nhau, với tổng diện tích khoảng 227 km2 (các khu vực này được gọi là khu vực C). Ngoài ra, ở 125 khu vực khác với diện tích gần 5 km2 hai bên khác nhau do sai lệch về kỹ thuật và các khu vực này đã được giải quyết khá nhanh chóng bằng các biện pháp kỹ thuật một cách hợp lý, công bằng cho cả hai bên.

Thực chất của suốt quá trình đàm phán chính là tập trung giải quyết 164 khu vực C nói trên và đến cuối năm 1999 hai đoàn đàm phán đã giải quyết xong toàn bộ 164 khu vực đó. Kết quả giải quyết là: Trong tổng số 227 km2 của 164 khu vực này thì khoảng 113 km2 được xác định thuộc VN và khoảng 114 km2 được xác định thuộc TQ. Giải pháp đối với 164 khu vực C đã được hai bên mô tả trong bản ghi nhận chung và sau đó đưa vào bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền giữa hai nước năm 1999 (kèm theo hiệp ước là bộ bản đồ tỉ lệ 1/50.000 gồm 34 mảnh). Những đoạn biên giới sông, suối đã được Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895 quy định rõ ràng thì giải quyết theo đúng quy định của các công ước đó. Còn những đoạn biên giới sông, suối chưa được hai công ước nói trên quy định rõ ràng thì giải quyết theo đúng thông lệ quốc tế, cụ thể là: Ở các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được thì đường biên giới đi theo trung tuyến luồng chính tàu thuyền đi lại, còn ở những đoạn sông, suối tàu thuyền không đi lại được thì đường biên giới ở các sông, suối này sẽ đi theo trung tuyến dòng chảy hoặc dòng chảy chính.

Kết quả đàm phán và việc ký Hiệp ước năm 1999 về biên giới trên đất liền VN - TQ là phù hợp với các nguyên tắc cơ bản đã được hai bên thỏa thuận, bảo đảm công bằng và thỏa đáng cho cả hai bên, đáp ứng các lợi ích cơ bản, lâu dài của nước ta.

. Về nguồn tin VN đã để mất đến 700 km2: Sau khi đối chiếu đường biên giới chủ trương của hai bên theo đường biên giới Pháp - Thanh, thì toàn bộ diện tích hai bên tranh chấp ở 164 khu vực C chỉ khoảng 227 km2. Rõ ràng, diện tích mà đường biên giới chủ trương của hai bên khác nhau chỉ có 227 km2, trong số đó khoảng 113 km2 thuộc VN và khoảng 114 km2 thuộc TQ; tức là diện tích được giải quyết cho mỗi bên xấp xỉ ngang nhau, thì không thể có việc ta bị mất hàng trăm cây số vuông được.

Hơn nữa, do nhiều nhân tố, hai bên có nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới ở nhiều đoạn, do đó mới phải đàm phán. Ðối với những khu vực mà bên này hoặc bên kia có đầy đủ cơ sở pháp lý (lời văn rõ ràng, hoặc đường biên giới trên bản đồ rõ ràng...) thì đất bên nào phải trả lại cho bên đó. Nhưng đối với những khu vực mà các cơ sở pháp lý không được đầy đủ thì tất yếu trong đàm phán không thể chỉ đáp ứng yêu cầu của một bên mà phải có sự nhân nhượng lẫn nhau trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản được hai bên thỏa thuận, nhằm đạt được kết quả giải quyết công bằng và thỏa đáng cho cả hai bên.

. Về thác Bản Giốc ở tỉnh Cao Bằng và khu vực Hữu Nghị Quan ở tỉnh Lạng Sơn: Hai khu vực này thuộc các khu vực phức tạp, nhạy cảm nhất trong quan hệ biên giới giữa hai nước. Trên thực tế, tại hai khu vực này đã từng xảy ra tranh chấp phức tạp và kéo dài trong nhiều năm. Các văn bản pháp lý về hoạch định và phân giới cắm mốc giữa chính quyền Pháp và nhà Thanh cũng có những điểm quy định không rõ ràng. Ðường biên giới được vẽ trên bản đồ tỉ lệ lớn (1/100.000), địa hình ở khu vực Hữu Nghị Quan được vẽ tổng hợp, không phù hợp với địa hình tự nhiên trên thực địa, nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới. Những hạn chế về cơ sở pháp lý và điều kiện tự nhiên đó đã dẫn đến hai bên có nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới ở hai khu vực này.

Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các cơ sở và yếu tố có liên quan, hai bên đã thống nhất giải quyết hai khu vực nêu trên như sau:

a. Khu vực thác Bản Giốc là một trong số các khu vực đường biên giới đi theo sông, suối. Do đó, cũng như ở các khu vực sông, suối khác đường biên giới ở khu vực này được giải quyết theo tập quán quốc tế là theo trung tuyến dòng chảy chính; việc xác định trung tuyến dòng chảy chính ở thác Bản Giốc sẽ do hai bên cùng đo đạc xác định trong quá trình phân giới, cắm mốc và dòng chảy chính vẫn ở trên thác. Như vậy, hoàn toàn không có việc ta mất thác Bản Giốc mà chỉ là việc xác định hướng đi của đường biên giới phù hợp với nguyên tắc xác định hướng đi của đường biên giới trên sông, suối đã được hai bên thỏa thuận, phù hợp với tập quán quốc tế.

b. Khu vực Hữu Nghị Quan có liên quan đến đoạn biên giới đi qua đường bộ nối liền hai nước và đi qua tuyến đường sắt. Ðối với đoạn đường bộ thì biên bản hoạch định Pháp - Thanh năm 1886 quy định rằng đường biên giới “nằm ở phía Nam ải Nam Quan, trên con đường từ Nam Quan đến làng Ðồng Ðăng”. Khi phân giới, hai bên đã cắm mốc số 18 để xác định đường biên giới và vị trí của mốc này cũng được mô tả là nằm trên đường từ Nam Quan đến Ðồng Ðăng (mốc này đã bị mất); còn trên bản đồ cắm mốc Pháp - Thanh năm 1894 thì địa danh Nam Quan nằm ở phía Bắc đường biên giới. Như vậy, đường biên giới luôn luôn ở phía Nam của Nam Quan, chứ không phải đi qua địa danh đó. Ðối với đoạn đường sắt, phía TQ cho rằng đường biên giới đi qua điểm nối ray, nhưng qua đàm phán hai bên đã đi đến giải pháp là đường biên giới nằm ở phía Bắc điểm nối ray 148 m, chứ không phải ở điểm nối ray như ý kiến của TQ.

Như vậy, có thể khẳng định rằng về tổng thể, các giải pháp đạt được trong việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền nói chung và đối với hai khu vực cụ thể nói trên là thỏa đáng, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên; những thông tin do bọn phản động và cơ hội chính trị tung ra là hoàn toàn bịa đặt, không có căn cứ và chỉ nhằm phục vụ cho những ý đồ chính trị đen tối.

. Về ý nghĩa của việc giải quyết biên giới trên đất liền giữa VN và TQ: Việc ký kết Hiệp ước Biên giới trên đất liền, ta đã giải quyết dứt điểm được một trong ba vấn đề biên giới, lãnh thổ tồn tại lâu nay với TQ (biên giới trên đất liền, vịnh Bắc Bộ và biển Ðông). Hiệp ước là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực của hai bên, có tính đầy đủ đến luật pháp quốc tế, thực tiễn quốc tế cũng như sự nhân nhượng từ cả hai phía.

Bước phát triển này giúp chúng ta thực hiện được mục tiêu xây dựng biên giới Việt - Trung thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định, góp phần tăng cường sự tin cậy giữa hai bên, tạo động lực thúc đẩy và phát triển quan hệ hợp tác mọi mặt với TQ theo phương châm “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”.