Nhiều làng nghề truyền thống như làm nón, làm gốm, đúc đồng, dệt chiếu... từng có một thời vàng son, là niềm tự hào của người dân Khánh Hòa nhưng đến nay đã dần phai dấu
Những sản phẩm có thể hái ra tiền ngày nào ở Khánh Hòa ngày càng mất hút trong thời buổi kinh tế thị trường, khi người dân không còn mấy ai mặn mà với những ngành nghề truyền thống.
Qua thời vàng son
Trên lối mòn nhỏ hẹp ven chợ Thành, huyện Diên Khánh - Khánh Hòa, bà Đặng Thị Tặng và bà Trần Thị Xuân ngồi buồn xo bên những chồng nón lá, xung quanh thưa vắng người lại qua. Hiếm hoi lắm mới có khách dừng lại bên gian hàng nón lá bình dị. Nhưng ngày nào cũng vậy, hai nghệ nhân của làng nón Phú Lộc, xã Diên Thủy, huyện Diên Khánh này vẫn cần mẫn gánh nón ra chợ, như một thói quen đã có từ mấy mươi năm trước - thời mà nón lá Thành nổi tiếng còn là niềm tự hào của người dân xứ này.
Bà Đặng Thị Tặng được xem là truyền nhân lớn tuổi (61 tuổi) và cũng chung thủy nhất với nghề làm nón của làng nón Phú Lộc. Học nghề từ tuổi đôi mươi, đôi bàn tay của bà đã gần nửa thế kỷ tỉ mẩn chằm nón lá. “Nghề này cứ cha truyền con nối, gia đình tôi đã có mấy đời làm nón. Cả đời tôi đã gắn chặt với nghề này, nặng nợ nên đến giờ cũng không bỏ được, dù bà con trong làng đã dần bỏ làm nón hết rồi” - bà Tặng buồn bã.
Đi dọc làng Phú Lộc, hỏi về nghề nón, tôi được nghe những người lớn tuổi vốn đều còn giữ ký ức về những ngày cả làng mê mải làm việc trong không khí tất bật của những năm thập niên 80 của thế kỷ trước, hào hứng kể chuyện. Sáng sớm, cả làng đợi lá chở trên rừng xuống, rồi phơi, rồi tách và miệt mài chằm nón.
Hai nghệ nhân làm nón ở làng nón Diên Thủy, Diên Khánh – Khánh Hòa với “gian hàng” thưa vắng khách bên góc chợ
Nhà nào cũng lao xao tiếng kéo lá, rộn ràng ấm áp những lời chỉ dạy. Chợ quê cũng xôn xao những khi “tập kết” nón cho thương lái. Thời gian gần đây, những hình ảnh ấy chỉ còn là của dĩ vãng. Những làng nón nổi danh của một thời ở Diên Khánh, Diên Sơn... bây giờ đìu hiu, đã không còn những hình ảnh đẹp của người nghệ nhân ngồi cần mẫn bên hiên nhà chằm nón thuở nào.
Nghệ nhân Đặng Thị Trừ hồi tưởng: “Thời đó, cả làng, nhà nào cũng làm nón, có thể nói già trẻ trai gái ai cũng biết và yêu thích nghề làm nón. Nhưng dần dần, cũng chỉ có người lớn tuổi giữ được nghề, còn lớp trẻ tỏa đi làm ăn xa, đâu ai chịu ở lại làng tiếp nối cái nghề càng lúc càng ít đầu ra này.
Gia đình tôi cũng đã bỏ nghề nón từ mấy năm nay, làm nón tỉ mỉ mất nhiều thời gian nhưng bán ra cũng không được bao nhiêu. Khó mà trụ nổi khi mình không sống được với nghề”. Nghệ nhân Đỗ Thị Bông bộc bạch: “Mười mấy năm trước, cũng đã có hộ bỏ nghề nhưng vài năm trở lại đây, từ khi có quy định đội mũ bảo hiểm thì làng nón mới trở nên tiêu điều. Người làm nón xoay sang nghề khác kiếm sống, chứ lay lắt giữ nghề này thì sống làm sao nổi?”.
Đó là ưu tư của những nghệ nhân các làng nón. Phải mất nhiều công đoạn từ lúc lá còn nằm trên cây cho đến khi trở thành thành phẩm nhưng giá bán ra của mỗi chiếc nón chỉ ở mức 8.000 đồng -10.000 đồng. Chưa kể vật liệu ngày càng khan hiếm, làng nghề không trụ vững cũng ngày càng ít ai chịu khó trèo non lội suối lên rừng đốn cây lấy lá, lại cộng thêm “sức ép” của mũ bảo hiểm, giá trị của chiếc nón lá càng lúc càng tuột dốc.
Nếu khai phá tốt những làng nghề truyền thống như làng nón sẽ phục vụ đắc lực cho du lịch
Làng nón Diên Khánh đang có nguy cơ bị mai một từng ngày khi không còn người tiếp nối, những nghệ nhân ít ỏi còn lại cũng không còn chú tâm đầu tư vào chất lượng để chiếc nón lá ở làng nghề này có thể sánh vai với nón bài thơ xứ Huế nhằm phục vụ du lịch.
Nghệ nhân Trần Thị Xuân tiếc nuối: “Biết làm sao được, ngày xưa có khi xuất hàng ngàn chiếc nón lá cho thị trường miền Nam, cả làng có thể sống được bằng nghề này. Còn bây giờ, có làm giỏi lắm cũng chỉ kiếm được vài mươi ngàn mỗi ngày. Người già bây giờ làm nón cũng chỉ là để khuây nỗi nhớ nghề, còn lớp trẻ chẳng ai chịu học”.
Người làng nón bây giờ xoay sang kiếm sống bằng nhiều nghề, trên mảnh đất yên bình cách TP Nha Trang chừng 10 km này, chuyện của một thời làm nón bây giờ chỉ còn lại trong ký ức.
Nghề dần mai một
Không riêng gì làng nón, những làng nghề truyền thống khác của Khánh Hòa cũng đang sống trong lay lắt khi ngày càng thưa vắng người làm, có giữ được thì cũng chỉ là để mưu sinh tạm bợ. Sản phẩm làm thủ công cũng trôi nổi bấp bênh trong thời buổi kinh tế thị trường cùng với hàng loạt mặt hàng ngoại nhập mẫu mã đẹp, chất lượng hơn nhiều đã lấn át sản phẩm của làng nghề truyền thống.
Mang danh là làng nghề nhưng làng gốm Vạn Bình ở huyện Vạn Ninh - Khánh Hòa bây giờ chỉ còn mỗi hộ ông Lê Văn Hai là còn nhào nặn gốm. Đây cũng là hộ gia đình có truyền thống làm gốm lâu đời nhất ở Vạn Bình nhưng giờ làm cũng chỉ vì muốn giữ cái nghề chứ lò gốm ít khi nổi lửa. Thời hoàng kim, làng gốm Vạn Bình có hơn 20 lò gốm luôn rực lửa, không khí làm việc hừng hực ngày đêm bởi làm ra bao nhiêu đều tiêu thụ hết trên thị trường các tỉnh, TP lân cận. Còn bây giờ, khách phương xa có đến cũng khó tìm hiểu, nhìn thấy được không gian văn hóa của làng gốm đã có tuổi đời gần 200 năm này.
Ông Nguyễn Văn Mến, Phó Chủ nhiệm HTX Nông nghiệp Vạn Bình - người đã từng gắn bó với nghề gốm lâu năm, nhận xét: “Gốm Vạn Bình không cầu kỳ nhưng có độ bền, giá thành rẻ và thông dụng.
|
Không khai phá làng nghề cho du lịch
Tại Khánh Hòa, làng chiếu ở xã Ninh Hà, huyện Ninh Hòa và làng nghề đóng tàu ở xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh cũng gần như lâm vào tình cảnh tương tự. Khánh Hòa phát triển mạnh du lịch ở TP Nha Trang nhưng làng nghề đã không được địa phương này chú trọng ngay từ đầu để khai phá nét đẹp tiềm ẩn.
Làng chiếu từng được chọn làm mô hình khai thác du lịch nhưng sự rơi rụng dần dần của người làm nghề đã làm cho nó trở nên manh mún, thưa vắng và không còn giữ được nét duyên vốn có. Có thể nói làng nghề Khánh Hòa giờ chỉ còn lại chút danh tiếng trong sự tan tác, đìu hiu. |
Sản phẩm làm ra chủ yếu là đồ gia dụng, phục vụ đời sống, sinh hoạt hằng ngày như:
bếp than, nồi, chum vại, ấm sắc thuốc... nên rất dễ tiêu thụ. Nhiều gia đình ăn nên làm ra nhờ làm gốm”. Thế nhưng, trước sự cạnh tranh của hàng nhựa, đồ sứ..., những vật dụng được chế tác từ đôi bàn tay của nghệ nhân làng gốm Vạn Bình đã ngày càng mất dần chỗ đứng trên thị trường. Nhiều nghệ nhân đành trở về với nghề nông, có người bỏ vào Nam kiếm sống. Hàng loạt lò gốm bị tháo dỡ hoặc để bụi phủ thời gian.
Tỉnh Khánh Hòa cũng từng cử nghệ nhân đi học lớp đào tạo về làm gốm mỹ nghệ chất lượng cao để giúp nghệ nhân có thể sống được với nghề, cũng là cách để giữ làng gốm. Tuy nhiên, giải pháp này cũng không cứu vãn được nguy cơ làng nghề đang bên bờ vực thất truyền.
Trong câu chuyện về làng nghề, cũng không ít người ưu tư về làng đúc đồng ở thôn Phú Lộc Tây, xã Diên Thủy. Cả ngôi làng đúc đồng hưng thịnh một thời bây giờ chỉ còn một tấm biển nhỏ đề dòng chữ “làng đúc” nằm chìm khuất giữa những mái nhà.
Trong làng, giờ cũng chỉ còn lác đác vài hộ làm nghề đúc đồng nhưng chỉ là những vật dụng thờ cúng cần thiết, vậy mà cũng không dễ tiêu thụ. Một người dân trong làng đúc đồng cho biết do nguyên vật liệu tăng, sản phẩm làm ra cũng không có lời bao nhiêu nên những người thợ lành nghề đầu quân nơi khác hoặc bỏ nghề này để chọn cách khác làm kế sinh nhai. Hộ nào còn kiên định bám trụ cũng chỉ là để lay lắt giữ cái nghề chân truyền bao nhiêu năm của cha ông nhưng chỉ là làm cho vui chứ nghề đã không còn có thể nuôi sống người dân được nữa.
Thành cổ Diên Khánh vẫn còn đó với những ký ức không phai qua rêu dấu thời gian nhưng cuộc sống hội nhập với những thay đổi của thời cuộc và chuyện áo cơm đã khiến những làng nghề truyền thống Khánh Hòa đang dần dần bị mai một. Với sự lãng quên này thì nguy cơ làng nghề ở xứ biển bị xóa sổ trong nay mai là điều khó tránh khỏi...