Nghĩa trang, tháng 7

Tháng 7, những nghĩa trang liệt sĩ trên khắp đất nước nghi ngút khói nhang, nhạt nhòa nước mắt

Tháng 7, mùa mưa, vậy mà suốt chặng đường chúng tôi đến với đồng đội, bầu trời cứ xanh ngăn ngắt. Nhưng thật lạ, khi chúng tôi đến Nghĩa trang Liệt sĩ Tân Biên - Tây Ninh, mây đen lại vần vũ ngập trời rồi mưa rơi lã chã. Nghĩa trang nào mà chẳng buồn nhưng đó là nỗi buồn của những người đang sống chứ bia đá thì vĩnh hằng và lặng thinh.

 
“Ngủ” với con một đêm
 
Người quản lý nghĩa trang còn trẻ tỏ ra tiếc rẻ: “Mấy chú đến muộn quá, cách đây vài hôm có đại lễ cầu siêu ở nghĩa trang quốc tế này”. “Nghĩa trang quốc tế” - những người dân địa phương thường gọi Nghĩa trang Liệt sĩ Tân Biên như vậy, vì đây chủ yếu là nơi an nghỉ của bộ đội tình nguyện VN hy sinh trên chiến trường Campuchia.
 
Trước mặt chúng tôi là ngôi mộ của hạ sĩ trinh sát Nguyễn Văn Minh, quê Đại Lộc - Quảng Nam. Minh là đồng đội mà tôi có dịp quen thân từ lần học chính trị ở Pailin, một huyện thuộc tỉnh Battambang gần biên giới Campuchia - Thái Lan. Dù về trung đoàn bộ học chính trị nhưng Minh vẫn ăn mặc như lúc đang luồn rừng với bộ quân phục sờn rách, hai ống quần tả tơi mà anh cắt bên ngắn bên dài. Chỉ vài tháng sau, vào năm 1979, Minh hy sinh...
 
 
img
Một thương binh viếng đồng đội tại Nghĩa trang Liệt sĩ Tân Biên


Minh là con trai một trong gia đình còn có hai chị gái nữa. Khi Minh về an nghỉ ở “nghĩa trang quốc tế”, năm nào cha anh cũng từ Quảng Nam vào Tân Biên “ngủ với con trai một đêm”. Có lần cha Minh vào đến TPHCM, khi đưa lên nghĩa trang thắp nhang xong, chúng tôi cố mời ông về một khách sạn ở TP nghỉ ngơi nhưng ông kiên quyết từ chối. Ông bảo để ông “nói chuyện với con một đêm”.
 
Sáng hôm sau, khi chúng tôi đến đón, cha Minh cho biết đêm ở nghĩa trang, ông dường như nghe tiếng của con mình và cả  những đồng đội anh. Ông bảo đó là những âm thanh của đất trời, của bia mộ. Ông chỉ những đám cỏ lau phất phơ trên ngọn đồi Tân Biên, so sánh rằng Minh và các đồng đội của chúng tôi nằm đây như những ngọn cỏ lau lay gió trên đồi; đến mùa khô mất đi, lặn vào đất rồi mùa mưa lại trồi lên như sự sống. “Con tôi không chết đâu” - người cha nói.
 
Vững vàng trên đôi chân đã mất
 
Minh ra đi vì vướng một quả mìn KP2. Theo anh Nguyễn Hữu Bằng, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3, trung đoàn 812, sư đoàn 309, cuộc chiến tranh Campuchia là cuộc chiến du kích và mìn. Hồi đánh chiếm ngọn đồi 367 có tính chiến lược ở tại Mỏ Vẹt gần biên giới Đông Bắc, trong những đêm tối, anh Bằng và đồng đội phải xúc từng xẻng mìn 652A lật qua hai bên để dọn  đường tiến lên. Đây là loại mìn đạp lên mới nổ, khác với loại 652B tự động nổ. Đó thật sự là cuộc chiến với tử thần.
 
Tôi cũng từng thấy một rừng mìn ở Pailin khi công binh dùng mìn DH “thổi” từng đoạn ngắn để mở đường. Pailin và nhiều khu vực biên giới Campuchia - Thái Lan đã từng chứng kiến quá nhiều cái chết, đặc biệt là do mìn. Mìn là thủ phạm chính gây thương vong cho bộ đội ta với mức sát thương cực kỳ tàn khốc, chủ yếu ở chân. Ở đó, công nghệ sản xuất những loại mìn ác độc được dịp thử nghiệm. Quả mìn KP2 chẳng hạn, được xem là “máy chém chân”: Nó biết nhảy lên để gây sát thương đôi chân con người.
 
Gần như mỗi tấc đất biên giới ở Pailin đều có mìn. Cho đến nay, Tổ chức Phòng chống bom mìn quốc tế MAG vẫn đang cố gắng tìm mọi cách làm sạch bom mìn nơi đây nhưng nỗ lực đó vẫn đang gặp nhiều thách thức. Hàng vạn thương binh vì mìn đang có tuổi đời từ 40 đến trên 50 là hậu quả dễ thấy nhất dù chiến tranh đã trôi qua hơn 32 năm.
 
Tôi nhớ mãi lần gặp lại anh Nguyễn Thanh Bình - nguyên trưởng ban quân lực trung đoàn 812, sau đó nhận nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 - vào năm 1982, khi ở trạm thu dung của sư đoàn 309 đóng trên đường Hoàng Hoa Thám (quận Tân Bình - TPHCM), lòng đang vui phơi phới vì được trở về trường đại học.
 
 
img
Anh Nguyễn Đình Phong (bìa trái) nhận thẻ thương binh. Ảnh: L.N.HUYỀN


Buổi sáng xuống phòng vệ sinh tập thể, tôi chợt thấy Bình đang đánh răng. Cái chân cụt ngủn của anh gác lên bệ bể nước làm tôi bàng hoàng. Bình là một giảng viên đại học, tôi nghĩ anh có thể hòa nhập với đời sống dễ dàng dù là thương binh nặng nhưng không, hình như anh có chuyện gia đình để rồi sau đó lưu lạc một đời thương binh thật buồn.
 
Tuy nhiên, hầu hết đồng đội tôi, người mất một, người cụt cả hai chân, như Nguyễn Văn Thạnh (Khánh Hòa), Lê Văn Châu (Quảng Ngãi)... đã vượt qua được nỗi gian khó do chiến tranh gây ra với bản thân mình. Nguyễn Văn Thạnh giờ là một doanh nhân thành đạt dù phải luôn luôn “lái xe tăng” – một cách nói vui về chuyện ngồi xe lăn.
 
Anh vẫn sống như phong cách người lính, ngay thẳng, táo bạo và đầy ắp nghĩa tình đồng đội. Tết nào Thạnh cũng cùng đồng đội rong ruổi từ Nam chí Bắc chỉ để được gặp mặt đồng đội, để ôn lại những kỷ niệm ở rừng và hát những bài ca đời lính. Châu cũng mất hai chân nhưng may mắn hơn Thạnh nhiều vì còn có thể mang chân giả, chống được nạn. Rời quân ngũ về quê nhà, dù đi lại hết sức vất vả- phải dùng hai tay chống trên hai cái đòn để nhích từng chút một - anh vẫn cần mẫn chăn nuôi để lo cho con học đại học và các cháu đều thành đạt.
 
Tiếp tục hy sinh
 
Hôm đám cưới con gái Châu, nhìn anh mặc bộ đồ vest với hai ống quần phất phơ nhưng gương mặt lại đầy mãn nguyện, tôi nghĩ đồng đội mình đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của người lính sau những trận đánh khốc liệt của cuộc đời. Tất cả họ đều có gia đình, có những người vợ tuyệt vời, thậm chí đó là những phụ nữ vĩ đại.
 
Làm vợ của một thương binh nặng chỉ còn 5%, 10% quả là một thách thức vô cùng lớn. Chính các chị là những người tiếp tục hy sinh cho cuộc sống này chứ không phải những đồng đội thương binh của chúng tôi.
 
Những người vẫn tiếp tục hy sinh còn có các bà mẹ, ông bố, thân nhân của liệt sĩ. Năm kia, nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ 27-7, vợ chồng tôi đưa mẹ của liệt sĩ Nguyễn Vân lên Nghĩa trang Liệt sĩ Bình Dương thăm con. Nghĩa trang mênh mông nhòa trong nhang khói. Đồng đội tôi nằm la liệt, lặng im và vô ngôn. Vợ tôi xúc động: “Mình chết nhiều vậy sao anh?”. Một câu hỏi làm nhói tâm can. Em ơi, nhiều lắm, đồng đội anh nằm đầy ở các nghĩa trang biên giới.
 
Nắng chiều lọt qua khe mây chiếu một vệt qua nghĩa trang. Mẹ Vân không chịu về. Bà đứng đó, tóc bạc trắng, như đợi con. Vợ tôi đến bên bà và nhìn thấy những giọt nước mắt lăn trên đôi gò má nhăn nheo.
 
Bất ngờ, bà ôm lấy vợ tôi: “Con ơi, nếu thằng Vân còn sống, bác cũng có đứa con dâu như con...”. Tiếng khóc của một người mẹ già và một người trẻ làm không gian nghĩa trang thẫm lại. Tôi như nghe từ bia mộ vọng lên lời thơ buồn đến nhói tim: Mẹ ơi, mẹ về đi, chiều phủ kín hết rồi/ Sông ngửa mặt lên trời thở từng hơi trắng/ Ai gọi đò bơ phờ bến vắng/ Mẹ về đi, gió lạnh, cỏ đầy sương... (Trong chiều nghĩa trang  - Nguyễn Quang Thiều).
 
Một chiều tháng 7, tôi ghé vào sạp bán hoa gần ngã tư Bình Thái - xa lộ Hà Nội (TPHCM). Một chị hình như là công nhân của một nhà máy nào gần đó đang chọn 17 bông hồng đỏ thắm. Thấy tôi loay hoay mua hoa tặng cho người bạn thương binh chỉ còn 5%, chị liền đến chọn giúp. Chỉ những đóa hồng đỏ, chị thổ lộ: “Bạn anh vẫn còn hạnh phúc. Anh hai tôi hy sinh ở Quảng Trị năm 1972 khi mới 17 tuổi...”. Tôi thấy những đóa hồng nhòa đi trong chiều tháng 7 thiêng liêng...
 
Tháng 7, những nghĩa trang liệt sĩ trên khắp đất nước nghi ngút khói nhang, nhạt nhòa nước mắt. Hỡi những đồng đội tôi, hỡi những chàng trai mười tám, đôi mươi, giờ bạn đang ở đâu? Hãy cất lời đi, dù từ bia mộ, lời cầu nguyện chứ không phải lời giáo huấn, rằng hãy sống sao cho ra sống, để xứng đáng với máu xương của những người trẻ tuổi đang nằm dọc theo biên giới Tổ quốc. Ở những nơi đó, hình như họ vẫn đang cầm súng...

30 năm mới nhận thẻ thương binh

Tôi không thể hình dung được hàng chục năm sau, mình lại có vinh dự được trao chiếc thẻ thương binh cho trung sĩ Nguyễn Đình Phong, quê Tuy Phước - Bình Định. Phong bị thương từ năm 1980, xuất ngũ năm 1983 nhưng thẻ thương binh lại thất lạc biền biệt.
 
Tìm hiểu nguyên nhân thì thật đơn giản. Lúc đó, Tuy Phước nhập với Vân Canh thành huyện Phước Vân; sau này lại tách ra, tên huyện nào trở lại với huyện đó. Oái oăm thay, thẻ thương binh của Phong ghi địa chỉ huyện Phước Vân và nó cũng có số phận như một liệt sĩ vô danh.
 
Hôm nhận thẻ thương binh, Phong khóc. 30 năm nay, không ai tin Phong là thương binh và anh lại càng đau hơn mỗi khi trái gió trở trời bị các vết thương hành hạ. Phong lặng lẽ làm ruộng nuôi con ăn học, trong khi lẽ ra các con anh phải được miễn học phí hoàn toàn, kể cả ở bậc đại học. Những giọt nước mắt của Phong không phải tiếc về điều ấy mà chỉ là tủi thân...