Phan Châu Trinh - Người khởi xướng dân quyền

Sáng 23-3, tại Dinh Thống Nhất - TPHCM, Hội Khoa học Lịch sử VN, Viện Khoa học xã hội VN, UBND tỉnh Quảng Nam, UBND TP Đà Nẵng và UBND TPHCM phối hợp tổ chức hội thảo khoa học Tưởng niệm 80 năm ngày mất Phan Châu Trinh (24.3.1926-24.3.2006).

Ngoài lãnh đạo các đơn vị tổ chức hội thảo, gần 100 nhà khoa học, còn có bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, đại diện gia tộc cụ Phan Châu Trinh, cụ Phan Bội Châu, cụ Nguyễn An Ninh.

Thấy được cái mạnh cái yếu của dân tộc

Cách đây tròn 80 năm, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, đồng khoa với Phan Châu Trinh (sinh năm 1872, tại Tây Lộc, nay là xã Tam Lộc, thị xã Tam Kỳ, Quảng Nam) đến viếng bạn bằng câu đối: “Nam quốc dân quyền tiên tổ chức/ Nam phương tịnh độ hậu siêu sinh”. Và lịch sử cũng khẳng định ông là người đầu tiên khởi xướng dân quyền. Ông tin vào nhân dân: “Dân ta là thánh là thần/ Bền gan chắc dạ quỷ thần phải kinh”, nhưng không tin vào bạo động, bởi ông đã thấy được cái mạnh cái yếu của dân tộc mình và của kẻ thù. Năm 1906 (34 tuổi), ông sang Nhật và có nhận xét: “Xem dân trí Nhật rồi đem dân trí ta so sánh thật không khác gì đem con gà đọ với con chim cắt già”. Cũng trong chuyến đi này, ông trao đổi thẳng thắn với Phan Bội Châu - cùng đỗ kỳ thi Hương năm 1900 với ông và Huỳnh Thúc Kháng: “Nhật Bản nhất định sẽ trở thành đế quốc. Dựa vào Nhật, thì không mất nước vào tay Pháp cũng sẽ mất nước vào tay Nhật thôi!”. Lịch sử đã chứng minh những nhận định đúng đắn của ông. Và ông quay về quê nhà cùng hai người bạn đã đỗ tiến sĩ nhưng không ra làm quan: Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, hoạt động tích cực trong phong trào Duy Tân, nhằm “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Thành quả từ khai dân trí, chấn dân khí

Nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định Phan Châu Trinh là người có lòng tin khổng lồ vào sức mạnh của tri thức. Ông tin tưởng sâu sắc rằng nhân dân có tri thức thì có thể lay trời chuyển đất. Thực tế đã chứng minh như thế. Chưa đầy ba năm sau ngày phát động (1906), khắp vùng nông thôn Quảng Nam- quê hương ông, đã có 60 trường ra đời, dạy và học theo kiểu hoàn toàn mới, với một chương trình hoàn toàn mới, như: dạy chữ quốc ngữ, dạy văn, dạy toán, lịch sử, địa lý, “bác vật” (khoa học tự nhiên), “đi buôn” (kinh tế), dạy nghề (bách khoa), dạy rèn luyện thân thể, dạy quân sự, dạy tiếng Pháp, tiếng Nhật... Năm 1908, từ một tình huống ngẫu nhiên, không hề có sự chỉ huy của các lãnh tụ Duy Tân, nhân dân xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã xuống đường chống xâu thuế và lan ra khắp Trung Kỳ, biến thành sự kiện lớn trong lịch sử cận đại, được sách sử ghi là “Trung Kỳ dân biến”.

Sau đó ngoài Trần Quý Cáp bị chém, Phan Châu Trinh cùng bạn bè khắp 3 kỳ bị giặc bắt giam cầm.

Một sự thức tỉnh toàn quốc

Nhờ sự vận động của Liên minh Nhân quyền tại Pháp, Phan Châu Trinh sớm được “ân xá”. Tháng 3-1911, ông được sang Pháp cư trú với mong muốn có cơ hội thực hiện cuộc vận động cải cách của mình, vì ông cho rằng nước Pháp là “gốc của nhân quyền”. Nhưng ông bị nhà cầm quyền Pháp vu cáo tội thông đồng với Đức, bắt giam trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất và được ra tù tháng 8-1915. Giữa năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh sang Pháp, gặp Phan Châu Trinh. Và trong giai đoạn đầu này, Nguyễn Tất Thành có chịu ảnh hưởng của Phan Châu Trinh. Phan Châu Trinh cũng đã nhìn thấy ở người thanh niên Nguyễn Tất Thành “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông...”. Trong bức thư gửi Nguyễn Ái Quốc, ngày 18-2-1922, ông có hứa hẹn: “Rồi may ra có cơ hội tôi lại về (nước). Một khi mà tôi đặt chân lên quê hương xứ sở, tôi nguyện đem hết nghị lực bình sanh mà thức tỉnh dân khí ba kỳ đồng tâm hiệp lực đạp đổ cường quyền áp chế”. Và Phan Châu Trinh đã giữ được lời hứa đến hơi thở cuối cùng. Trước giờ phút lâm chung, ông mong đợi người bạn chí thiết Huỳnh Thúc Kháng. Và lời trăn trối cuối cùng của ông là dành cho vận mệnh của đất nước: “Được độc lập dân tộc sở cậy Nguyễn Ái Quốc”.

9 giờ 30 ngày 24-3-1926, Phan Châu Trinh qua đời. Ban tang lễ gấp rút được thành lập, thông báo cho quốc dân biết. Một phong trào yêu nước sôi nổi đã nổ ra khắp nơi bất chấp sự đe dọa và đàn áp. Tại Sài Gòn, đám tang Phan Châu Trinh đã trở thành một cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng. Ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc theo dõi báo chí và có viết trên tạp chí Thư tín Quốc tế, số 91, ngày 14-8-1926: “Khắp xứ Nam Kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước đã làm lễ truy điệu nhà chí sĩ...”.

GS ĐINH XUÂN LÂM: Vẫn còn giá trị

Phan Châu Trinh đã xuất hiện trên vũ đài chính trị nước ta đầu thế kỷ XX với tư cách một nhà yêu nước khảng khái, trung thực, bất khuất trước cường quyền, một sĩ phu tiến bộ suốt đời hăng hái và kiên trì phấn đấu cho việc phát huy dân chủ, dân quyền ở nước ta. Trong công cuộc đổi mới hiện nay của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, những bài học về dân chủ, dân quyền từ thời Phan Châu Trinh vẫn còn giá trị, đã có và đang có ý nghĩa to lớn.