Tham nhũng có biểu hiện “nhờn”?
Sau hơn 2 năm kể từ khi Luật Phòng chống tham nhũng có hiệu lực (1-6-2006), cuộc chiến chống tham nhũng của chúng ta đã đạt được những kết quả gì? Một nghiên cứu do Đại sứ quán Phần Lan tại VN, kết hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu Phát triển cộng đồng (CECODES), MTTQ VN thực hiện, cho chúng ta thấy nhiều vấn đề của tình trạng tham nhũng hiện nay ở nước ta
Một dự án nghiên cứu đang được tiến hành, dù có thể chưa toàn diện nhưng đã phần nào xác định bản chất, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản phòng chống tham nhũng (PCTN) và thực thi Luật PCTN hiệu quả hơn.
Thanh tra rầm rộ, kẻ tham nhũng e sợ
Nghiên cứu này nhận xét, các năm 2006-2007, Luật PCTN được triển khai, các cơ quan bảo vệ pháp luật như thanh tra, tòa án, công an, VKSND đã hoạt động rầm rộ, thanh tra, điều tra, xử lý nhiều vụ tham nhũng. Thanh tra Chính phủ tiến hành nhiều cuộc thanh tra dự án, công trình có vốn đầu tư lớn, thu hồi cho ngân sách nhiều tỉ đồng. Ngành công an phát hiện, điều tra hàng ngàn vụ phạm tội tham nhũng. Ngành kiểm sát truy tố hàng trăm vụ án tham nhũng, với số tiền bị chiếm đoạt, thất thoát hàng trăm tỉ đồng.
Việc làm này có tác động tích cực đáng kể. Một mặt có tác dụng răn đe, người có điều kiện tham nhũng dường như ngại ngần hơn, buộc phải “cẩn thận” hơn khi thực hiện hành vi tham nhũng. Người dân, trước hết là cán bộ, đảng viên hiểu biết về Luật PCTN, do đó tham nhũng dường như bước đầu được ngăn chặn so với trước khi có Luật PCTN. Tuy nhiên, sau đó, như cảm nhận của Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai - được những người thực hiện công trình nghiên cứu trích dẫn - có biểu hiện “nhờn”, các hoạt động PCTN yếu đi. Song cũng thể còn do tham nhũng trở nên tinh vi hơn, rất khó phát hiện.
Tại cuộc đối thoại với các nhà tài trợ quốc tế về PCTN vừa diễn ra cuối tuần qua tại Hà Nội, đại diện đại sứ quán Đan Mạch và Phần Lan cũng tỏ ý băn khoăn: “Triển khai PCTN rất tốt, nhưng đang có biểu hiện chùng xuống”. Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN Vũ Tiến Chiến lý giải, khi mới thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương, nhiều vụ án còn tồn đọng từ các năm trước được rà soát, xử lý. Sau bước đầu đó, PCTN đi vào chiều sâu; tập trung nhiều cho công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế. Đây là quá trình liên tục, thường xuyên, không phải là phong trào nên không thể nói PCTN giảm dần.
Nghiên cứu này cũng đưa ra khuyến nghị đáng lưu ý, kế hoạch PCTN ở các địa phương chưa được xây dựng một cách cụ thể, thiết thực, chưa có hoạt động giám sát thực hiện dẫn đến hiệu quả chưa cao. Mặt khác, việc tổ chức triển khai Luật PCTN chủ yếu mới dựa vào Đảng ủy, chính quyền các cấp mà không trực tiếp tới người dân. Theo kết quả khảo sát, 88% người dân (là các trưởng thôn, xóm, tổ trưởng dân phố) cho rằng hiệu quả triển khai phổ biến Luật PCTN tại địa phương chỉ đạt mức trung bình và khá; tỉ lệ đánh giá tốt quá thấp, chỉ chiếm 8%. Kết quả này ở những người dân thực sự và doanh nghiệp còn hạn chế hơn nữa, 42,32% và 56,67% đánh giá là kém; 18,89% và 39,13% đánh giá là quá kém. Hơn nữa, kể cả những người gọi là “nắm” được Luật PCTN thì cũng không biết được chi tiết.
Đất đai vẫn là mảnh đất tốt của tham nhũng.
Luật PCTN đã có tác động thúc đẩy tính công khai, minh bạch, tạo cơ sở cho một bước đột phá trong hoạt động kê khai tài sản. Pháp lệnh Dân chủ cơ sở được triển khai tới xã, phường, rất nhiều hoạt động của chính quyền phải được công khai với dân. Theo người dân, những hoạt động được chính quyền xã công khai cần nhiều hơn là huy động, sử dụng các khoản dân đóng góp; tài chính, ngân sách; mua sắm công và xây dựng cơ bản. Người dân còn đánh giá thấp các hoạt động công khai như: Báo cáo hằng năm về PCTN; quản lý, sử dụng nhà ở; kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản Nhà nước.
Đại đa số người dân được phỏng vấn khẳng định tại địa phương mình có tham nhũng, tuy nhiên quy mô không lớn. Điều này có thể giải thích do địa bàn khảo sát chủ yếu là nông thôn, không thuộc các lĩnh vực như xây dựng hạ tầng lớn, thuế quan, khai thác tài nguyên...
Hai lĩnh vực xảy ra nhiều tham nhũng nhất, là quản lý đất đai (85,8%), dự án công trình xây dựng (84,81%). Tiếp đó là cấp phép 47%; thuế, lệ phí, quỹ 40,64%; điều tra, xét xử, thi hành án 38,69%; hải quan 35,51%; thu, chi ngân sách 34,45%; hộ tịch, hộ khẩu 29,33%; nuôi con nuôi 4,59%.
Đánh giá mức độ xử lý tham nhũng, tới 73% cho là “xử lý chưa hết và không kiên quyết”. Chỉ có 2% cho rằng đã xử lý đầy đủ và đúng các tội tham nhũng. Trong một thảo luận nhóm nghiên cứu tại Hà Nội, nhiều người nhận xét: Người tham nhũng chỉ bị chuyển vị trí công tác, có nhiều trường hợp còn được lên chức. Chỉ những việc quá bức xúc dư luận và báo chí lên án mạnh thì cơ quan chức năng mới quan tâm xem xét. “Một cán bộ nắm quyền lực tham nhũng, nhưng không bị xử lý nghiêm thì nguồn phát sinh tham nhũng sẽ vẫn còn”.
|
Trong 30 tháng, kể từ tháng 3-2008, Đại sứ quán Phần Lan và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển cộng đồng (Cecodes) phối hợp với Ban Dân chủ Pháp luật (MTTQ VN) thực hiện dự án “PCTN – đánh giá hiện trạng và xây dựng năng lực PCTN cho các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng nông thôn”. Dự án tiến hành khảo sát tại 18 xã, phường thuộc 9 tỉnh, thành: Hà Giang, Lào Cai, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu và Long An. Dự án nhằm tìm ra câu trả lời vì sao sau hơn 2 năm thực hiện Luật PCTN (từ ngày 1-6-2006 đến tháng 10-2008) mà “tình hình tham nhũng vẫn diễn ra phổ biến, nghiêm trọng, phức tạp trên nhiều lĩnh vực, đang trở thành vật cản lớn cho thành công của công cuộc đổi mới?”. Kết quả khảo sát cho thấy, 67% số người được hỏi cảm nhận là thời gian đầu triển khai Luật PCTN, tình trạng tham nhũng có xu hướng giảm. Song 33% có nhận định ngược lại, trong đó 26% cảm nhận mức độ tham nhũng vẫn diễn ra như khi chưa có Luật PCTN, 7% cho là mức độ tham nhũng tăng lên. |