Tranh chấp kinh tế ngày càng phổ biến

KINH TẾ.- Do không nắm vững pháp luật, nhiều người góp vốn làm ăn chung đã bị “tiền mất tật mang”. Luật Doanh nghiệp vẫn còn kẽ hở cần bổ sung. Đầu tháng 9-2001, Tòa Kinh tế - Tòa án Nhân dân TPHCM thụ lý hồ sơ giải quyết tranh chấp giữa hai thành viên góp vốn của một công ty TNHH tại quận 1.

Nguyên đơn (bên A)  là giám đốc công ty, góp 50% vốn thành lập, bị đơn (bên B)  là trưởng ban quản trị, góp 50% vốn còn lại. Bên A cho biết, sau khi bên A có ý định chuyển phần hùn của mình cho người khác thì bên B thu giữ con dấu, ra quyết định cho bên A nghỉ việc, không cho bên A tham gia giải quyết mọi việc của công ty, trong khi việc chuyển nhượng phần hùn chưa hoàn tất. Vụ tranh chấp kinh tế nói trên không phải là trường hợp cá biệt.

1001 kiểu tranh chấp giữa các thành viên trong công ty

Trước đó là trường hợp tranh chấp giữa hai thành viên của Công ty TNHH Kim Bàng. Bên A là phó giám đốc, góp 20% vốn ban đầu, bên B là giám đốc công ty, góp 80% vốn còn lại. Sau đó, bên A góp thêm vốn, nâng tỉ lệ vốn góp lên khoảng 30%. Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, bên A không được thông tin về các mặt hoạt động của công ty, cũng không được chia lãi theo vốn góp. Bên B còn ra quyết định cho bên A thôi việc và ngăn cản không cho bên A đến công ty. Do đó, bên A kiện, đòi rút vốn góp và đòi chia lãi khoảng 50 triệu đồng (kể từ ngày thành lập công ty đến khi tòa xử).

Thoạt nghe, có vẻ như bên A đã bị ép uổng, nhưng theo trình bày của bên B thì bên A chỉ đứng tên trên danh nghĩa, còn thực tế không góp vốn như bên A đã trình bày. Bên A cũng không có bằng chứng gì về những việc đã nêu, như chứng nhận góp vốn ban đầu, chứng nhận tăng vốn... Trong khi bên B lại có các văn bản, chứng từ sổ sách chứng minh. Thẩm phán Nguyễn Công Phú, chủ tọa phiên tòa, cho rằng: “Bên A không có đủ cơ sở để xác định có góp vốn thực tế vào công ty, nên bác yêu cầu đòi rút vốn và đòi chia lãi của bên A”. Hơn nữa, theo Luật Doanh nghiệp, yêu cầu hoàn trả vốn chỉ có thể thực hiện được bằng cách chuyển nhượng phần hùn hoặc giảm vốn điều lệ nếu được ¾ tổng số thành viên công ty đồng ý.

Tranh chấp với công ty “ma”, người nước ngoài

Căng thẳng và ngày càng phổ biến là những tranh chấp có liên quan đến phần vốn góp của người nước ngoài nhưng đứng tên hợp pháp lại là người VN. Sau một thời gian hoạt động, những quan hệ giữa các thành viên không còn thuận thảo, hai bên dắt nhau ra tòa. Một bên có vốn nhưng không đứng tên hợp pháp, một bên không có vốn nhưng lại có đầy đủ giấy tờ chứng minh hợp pháp. Thường những trường hợp này, Tòa Kinh tế bác đơn và chuyển sang Tòa Dân sự giải quyết tranh chấp dân sự. Hoặc những dạng tranh chấp giữa các doanh nghiệp (DN) nhưng một bên là DN “ma”, đã bỏ trốn, cũng xảy ra nhiều trong thời gian gần đây. Với những trường hợp này, tòa buộc phải ra quyết định tạm đình chỉ, cho đến khi bên nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn.

Theo một thẩm phán tại Tòa Kinh tế TPHCM, thời gian gần đây, các vụ tranh chấp như trên diễn ra khá phổ biến và tình tiết ngày càng phức tạp. Trước khi có Luật DN thì lại không có những dạng tranh chấp này. Kể từ khi thực hiện Luật DN đến nay, số DN mới thành lập trong cả nước đã xấp xỉ bằng số lượng thành lập trong 10 năm trước đó. Do đó, mối quan hệ giữa các DN, nội bộ trong DN ngày càng phức tạp. Trong khi Luật DN tuy có thoáng nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa có quy định chặt chẽ, chưa có chế tài cụ thể. Những dạng người nước ngoài đầu tư chui, kê khống phần vốn góp hoặc không góp vốn thành lập công ty... ngày càng phổ biến và là nguyên nhân phát sinh tranh chấp. Các ngành vẫn đang góp ý để Chính phủ ban hành những biện pháp chế tài nhằm hạn chế những tranh chấp phát sinh như trên.