Dòng sông kể chuyện

Đó là tên của bộ sưu tập đồ gốm dưới lòng sông Hương của nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan trưng bày tại Festival nghề truyền thống Huế sẽ khai mạc vào ngày 12-6, tại TP Huế

Ông Phan bảo mình chỉ là người giúp việc cho dòng sông. Sông Hương là nhân vật chính. Qua những hiện vật sưu tầm được, dòng sông bộc lộ những suy nghĩ mà nó đã ôm ấp từ mấy ngàn năm nay.             


Mấy ai biết rằng những hòn đá vô tri với đủ các hình hài, vô số  san hô nhuốm màu rong rêu được trục vớt từ dưới lòng sông Hương  lại là “nhân vật” ghi lại dấu ấn sinh hoạt của ngư dân vùng sông nước (những viên đá để ngư dân dùng  làm neo đậu thuyền).

San hô chỉ có ở vùng nước mặn nhưng vẫn xuất hiện rất nhiều ở lòng sông Hương do hiện tượng nước biển xâm thực. Mấy ngàn năm về trước, loài người đã quần cư, sinh sống  ở vùng đất này. Bằng chứng là những công cụ lao động sản xuất, đồ dùng sinh hoạt bằng gốm, đặc trưng của nền văn hóa Sa Huỳnh, một trong  những  nền văn hoá rực rỡ  của nền văn minh Việt cổ, thời tiền sử, đã từng phát triển ở Huế.


Sông Hương cũng là nơi lưu dấu sinh hoạt của người Chăm từng sinh sống ở vùng đất này. Đó là những chiếc bình pha trà, những chiếc ấm nấu nước,  chén ăn cơm... với nhiều chủng loại, đa dạng, phong phú.

img
Những chiếc ấm được vớt từ sông Hương


Những chiếc bình đựng vôi đen xỉn im lìm kia lại biểu hiện cho một nét đẹp văn hóa, một phong  tục tồn tại hàng ngàn năm, từ thế hệ này đến thế hệ khác của dân tộc Việt Nam. Có bình đựng vôi, có ống đựng bã  cau trầu có nghĩa là tục  ăn  cau trầu ở Huế đã có từ lâu đời. Ngoài bình vôi bằng gốm, sông Hương  còn xuất hiện bình vôi bằng nguyên liệu sứ, đồng, tương ứng với hoàn cảnh kinh tế của từng giai cấp, cho thấy xã hội đã có sự phân biệt đẳng cấp.


Trong vô số hiện vật đồ gốm tồn tại trong lòng sông Hương, đâu đó còn thấp thoáng bóng dáng Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội. Đó là những dụng cụ sinh hoạt bằng nguyên liệu sành, sứ sản xuất từ các lò gốm nổi tiếng như Bát Tràng, Chu Đậu, qua các triều đại Lý,Trần, Lê... Đây là những đồ dùng sinh hoạt có thể do người miền Bắc đem theo khi di cư vào Huế, cũng có thể do sự giao lưu, buôn bán giữa hai vùng đất mà có được.


Không phải chỉ có sự hiện diện của món ăn mới đánh giá được văn hóa ẩm thực của mỗi vùng miền mà sự xuất hiện của vô số  dụng cụ phục vụ cho việc ăn uống cũng có ý nghĩa không kém, với đặc điểm dấu tích của từng loại công cụ, chủ yếu là đồ gốm còn  lưu lại. Một chiếc nồi ở giữa lõm vào, hai đầu phình ra, hẳn là chiếc chõ để hông xôi.

Hay một chiếc nồi ở giữa có hình thù giống như cái cù lao, có thể đó là nơi để  than hâm nóng món ăn. Rất nhiều loại tách (hình dạng giống chiếc niêu), chén, dĩa với nhiều kích cỡ cho thấy người xưa đã biết sáng tạo khá nhiều món trong các bữa ăn. Cứ nghĩ rằng ở xã hội văn minh mới xuất hiện thú uống trà, thưởng thức trà nhưng qua những chiếc bình trà, chén  trà bằng gốm còn sót lại đã chứng minh rằng  từ thời tiền sử, người Việt đã có văn hóa uống trà.


Tất cả những cổ vật dưới lòng sông Hương mà ông Hồ Tấn Phan cất giữ như  vẫn còn mang hơi thở của cuộc sống. Mỗi hiện vật là một linh hồn, chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa, lịch sử, giúp hậu thế hiểu được sự hình thành, phát triển của một địa phương. Chính vì vậy mà người thầy giáo trên 70 tuổi này đã  dành công sức tiền bạc để sưu tầm, gìn giữ suốt hơn 40 năm qua.