Thử nghiệm nào cũng phải tính đến khán giả
Có ba đạo diễn đã nổi lên bằng ngôn ngữ “lạ hóa” trong nghệ thuật dàn dựng, đó là Lê Quý Dương với Chợ đời, Lan Hương với Nhật nguyệt thực và Bích Ngọc với Tiếng vọng hành tinh
Có lẽ khát vọng tha thiết nhất của đạo diễn tham dự Liên hoan Sân khấu Xã hội hóa 2006 tại TPHCM là khát vọng “lạ hóa” ngôn ngữ vở diễn, nhằm đưa đến sự mới mẻ thật sự trong thưởng thức sân khấu của khán giả đương đại. Ba gương mặt tiêu biểu cho khát vọng này là Lê Quý Dương, Lan Hương và Bích Ngọc.Lê Quý Dương đưa nghệ thuật sắp đặt vào kịch
Đạo diễn Lê Quý Dương, Việt kiều Úc, xuất hiện tại TPHCM từ cách đây hàng chục năm.
Tôi từng xem những vở diễn đầu tay của Dương ở TPHCM, từng ngạc nhiên đến thán phục ngôn ngữ hình thể quá đẹp mà Dương đã đưa ngọt ngào vào nghệ thuật dàn dựng hai vở diễn liên tiếp ra mắt vào giữa thập kỷ cuối của thế kỷ 20: Bông cúc xanh trên đầm lầy và Ngôi nhà đông người. Chỉ tiếc rằng sau gần chục năm gặp lại, xem Chợ đời, tôi thấy Dương hầu như “bỏ quên” ngôn ngữ hình thể để say mê một ngôn ngữ mới, mà các họa sĩ Việt Nam cũng đang say mê: ngôn ngữ hội họa sắp đặt (perfoman). Dương muốn sân khấu Chợ đời ngay lập tức có ấn tượng thị giác, nên đã cố tình bày đặt một không gian sân khấu ngổn ngang chất liệu đồng quê tranh tre nứa lá, với sọt, rổ, bị, thúng, mẹt, thang tre, đèn hoa kỳ, đèn măng sông từ thuở nào. Quả là ấn tượng khi màn mở, cả một đám đông trong trang phục bình dân chạy vòng vòng trong khán phòng, với lửa đèn chập chờn, lanh lảnh tiếng rao bán báo và không khí hết sức nhộn nhạo của một cái chợ quê trong thành phố. Rõ ràng Dương muốn một sân khấu tả thực (diễn tả một cái chợ thực) trên nền tảng hội họa sắp đặt, cốt để thử nghiệm việc diễn tả một cái chợ khác: chợ đời. Vì trong cái chợ đời này, Dương muốn phê phán sự tham nhũng, sự công thần, chuyện cướp công, cơ hội chủ nghĩa, bội phản, thay lòng đổi dạ với quá khứ v.v...
Dễ nhận thấy rằng, do quá nôn nóng về vấn đề thời sự xã hội muốn đặt ra trong vở diễn, lại muốn có chiều sâu ý nghĩa, nên Lê Quý Dương đã tự mình rơi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”: sân khấu sắp đặt, phương tiện mà anh lựa chọn thử nghiệm đã không tải nổi ý đồ quá lớn và chồng chất ý nghĩa như Dương mong muốn, nên các vai diễn trong vở diễn không được diễn đạt rõ nét từng thân phận như nó buộc phải thế.
Nhưng phải nhận rằng niềm say mê tìm tòi ngôn ngữ mới lạ cho từng vở diễn là nét cá tính rất đáng trân trọng của đạo diễn trẻ này...
Lan Hương và Bích Ngọc đều “máu lửa”
Xuất hiện tại TPHCM đúng vào lúc sân khấu xã hội hóa đang cao trào nhất bởi những cuộc đối thoại giữa người làm, người viết, người chấm..., Nhật nguyệt thực của NSƯT Lan Hương, trong ba vai trò: đạo diễn, tác giả, diễn viên chính, đã gây một ấn tượng rất mạnh về sự thử nghiệm ngôn ngữ mới: kịch hình thể. Những người cùng nghề sân khấu đi xem khá đông. Khán giả cũng vậy, đi xem vì tò mò và cũng vì thương hiệu Nhà hát Tuổi trẻ của Hà Nội và nữa, của "Em bé Hà Nội" Lan Hương rực rỡ trên màn bạc thuở nào, nay vẫn dư sức làm mưa làm gió sân khấu Hà Nội bằng khao khát thử nghiệm của mình trong vai trò mới: đạo diễn. Hương đã tự yêu mến, tự dàn dựng Nhật nguyệt thực, con bệnh bí hiểm bằng ngôn ngữ kịch hình thể.
Quá yêu kịch hình thể, Lan Hương đã chọn hai hiện tượng tự nhiên lạ biệt nhất để diễn đạt sân khấu: Nhật nguyệt thực khiến con người nhận ra bản thân mình, để yêu, để sống và để thông cảm. Ca ngợi những tình cảm ấy, Lan Hương dùng ba câu chuyện để chuyển tải ý đồ đạo diễn và dùng hình thể diễn viên của chính mình để phát ngôn. Có điều, câu chuyện kịch chưa được xâu chuỗi hợp lý và chưa được lặn sâu vào ngôn ngữ hình thể nên thông điệp của vở diễn đã không đến được với người xem, nghĩa là kịch hình thể của Lan Hương chưa được viết đúng ngữ pháp sân khấu như nó buộc phải thế.
Bích Ngọc, về cơ bản cũng bị mắc lỗi ngữ pháp như Lan Hương, nhưng theo cách khác, bởi vì Ngọc chỉ sử dụng một thứ duy nhất, theo cách gọi của mình: “kịch pantomim” hoặc có thể gọi là kịch câm để diễn đạt việc con người ra đời như thế nào trong vở Tiếng vọng hành tinh. Đúng là khi dựng cả một vở kịch câm, không có một lời nào, chỉ thuần túy dùng động tác hình thể để tả một nội dung khá trừu tượng, Ngọc đã quên rằng, ở sân khấu truyền thống Việt Nam đã sẵn có một thứ ngôn ngữ tương tự với đặc sắc riêng của mỹ học “ước lệ”, nên vô tình đã làm nghèo sân khấu kịch câm của mình khi chỉ sử dụng một phương tiện biểu đạt duy nhất: pantomim cho Tiếng vọng hành tinh.
Đặt cả ba cuộc thử nghiệm này vào lòng công cuộc xã hội hóa sân khấu, các đạo diễn “máu mê” này đều phát hiện ra rằng: Thử nghiệm nào cũng phải tính đến khán giả, và chính khán giả mới là khâu kiểm chứng cuối cho sự thử nghiệm thành công hay thất bại. Và thử nghiệm nào cũng phải từ gốc rễ tình tự dân tộc mà khởi đi...