Về Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2002: Không có tác giả, tác phẩm vượt trội

Giải thưởng năm nay chỉ đáp ứng được yêu cầu ghi nhận. Còn về mặt phát hiện, có thể đó là tác giả nữ Trần Thùy Mai?

img Đánh giá: Vì không đồng thuận nên cần có sự thỏa hiệp như một giải pháp tình thế: Cho nhiều giải thưởng và tặng thưởng. Do vậy giải thưởng năm 2002 không thấy có tác giả, tác phẩm vượt trội, thuyết phục được công chúng

Giải thưởng năm nay lập được một kỷ lục: Có tới 8 tác phẩm được giải thưởng, 8 tác phẩm được tặng thưởng. Tuy số phần thưởng nhiều gần gấp đôi năm ngoái, nhưng cũng như năm ngoái, năm kia..., vẫn chỉ có giải B trở xuống. Không có giải A, nhưng lại có giải đặc biệt, đặc biệt nhưng tiền thưởng lại... không đặc biệt, kém giải B 3 triệu, thua tặng thưởng 1 triệu.

Sự không đồng thuận.- Có thể thấy sự không đồng thuận trong nhìn nhận đối với tập thơ Sóng reo của nhà thơ lão thành Nguyễn Đình Thi (1924), gợi nhớ đến cách nhìn nhận tương tự đối với tập hồi ký Nhớ lại một thời của nhà thơ Tố Hữu (1920-2002) được tặng thưởng năm ngoái. Vì không đồng thuận nên cần một sự thỏa hiệp, một giải pháp tình thế. Cho nhiều giải thưởng, nhiều tặng thưởng cũng là một giải pháp tình thế: Không chọn được giải A nên phải có nhiều giải B và thấp hơn nữa. Điều này phản ánh thực trạng của văn đàn hiện nay: không có tác giả vượt trội, tác phẩm vượt trội đủ sức thuyết phục các vị giám khảo, sau đó là thuyết phục công chúng. Khi tiêu chí nghệ thuật đã phân vân thì cần thiết phải vận dụng thêm nhiều tiêu chí nữa: tuổi tác, quá trình, vị trí, sự thiệt thòi, vùng miền, thậm chí cả giới tính nữa? Và phải chăng trong cái chuyện giải thưởng, còn có cả sự may rủi? Năm kia, khi biết có một tập thơ rất tầm thường lọt vào chung khảo, tôi trực tiếp chất vấn một vị trong hội đồng thơ. Nhà thơ phân bua: “Đêm hôm mưa rét, tay ấy tìm đến tận nhà tặng tớ tập thơ, tớ thấy tội tội nên đọc kỹ...”. Một nhà thơ khác, “bảo trợ” cho một tập thơ khác thì hùng hồn chất vấn chủ tịch hội đồng về quy trình làm việc. Kết cục, “hùng hồn” thắng  “tội tội”, nhưng tôi (và nhiều nhà thơ khác, cả một số vị trong hội đồng) vẫn không được thuyết phục về chất lượng tập thơ đăng quang. Nói ra đôi chuyện bếp núc ấy, không phải để lên án mà chỉ để bày tỏ sự thông cảm với cái khó của những người cầm cân nảy mực. Giải thưởng nào, cuộc bình bầu nào chẳng thế, chẳng chịu sức ép, kể cả giải Nobel, nhất là Nobel văn chương? Vấn đề là, vượt lên tất cả những tục lụy ấy, nó phải ghi nhận được, cao hơn là phát hiện được, ít ra là một giá trị thực nào đó, được thời gian ủng hộ.

Ghi nhận.- Xét riêng tiêu chí ghi nhận, tôi ủng hộ giải thưởng Hội Nhà văn năm nay. Với việc trao giải B cho Đỗ Chu (văn) và Bằng Việt (thơ), giải thưởng đã ghi nhận đóng góp của hai cây bút rất xứng đáng đương ở độ tuổi lục tuần này. Một loài chim trên sóng không phải là tập văn hay nhất của Đỗ Chu (tôi thích tập Mảnh vườn xưa hoang vắng hơn), nhưng những phẩm chất làm nên tên tuổi Đỗ Chu có thể tìm thấy trong cuốn sách này. Cũng vậy, tập thơ Ném câu thơ vào gió hiện diện khi tưởng chừng tác giả của nó đã mệt mỏi, đã đi quá xa trên một con đường khác. Nhưng không, vẫn còn đó một Bằng Việt tự tin, đĩnh đạc, thậm chí trẻ trung như thời viết Tình yêu và báo động. Độc giả cần công bằng với nhà văn, cũng như với các ngôi sao thể thao: Đến một tuổi nào đó thì giữ vững phong độ đã là thành tích rồi. So sánh với Bằng Việt thì giải B của Thanh Tùng khá là thất vọng. Tôi đã cố gắng đọc đi đọc lại 99 bài trong tập thơ Thời hoa đỏ mà không sao tìm lại được thiện cảm của mình, như khi đọc... một bài Thời hoa đỏ in trên VNQĐ đâu từ những năm 1985-1986 và được giải trong năm của tạp chí này. Thanh Tùng vốn là một cây bút có giọng riêng của Hải Phòng, phóng túng, lại được tiếng là một nhà thơ công nhân, nhưng thành công của Thời hoa đỏ thì chẳng liên quan gì đến nghề nghiệp xã hội của anh cả. Nó hay vì sự thành thực của một người đàn ông khi bộc lộ nỗi đau và lòng vị tha trong tình yêu “Hoa như mưa rơi rơi/Như tháng ngày xưa ta dại khờ/ Ta nhìn sâu vào mắt nhau/Mà thấy lòng đau xót/ Trong câu thơ của em anh không có mặt/.../Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say”... Bài thơ này, được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc thành công đã góp phần “neo” cái tên thi sĩ Thanh Tùng vào tâm trí bạn đọc. Những bài... “ăn theo” Thời hoa đỏ trong tập này cũng còn đọc được (sau Thời hoa đỏ, Hè ở Hòn Gai, Giã từ, Độ dốc...), vẫn còn những câu gợi cảm (có tiếng ngân xa trong ngực nước chiều/có tiếng chia ly héo dần trong sậm tối) nhưng nhìn chung cả tập thơ cho thấy một Thanh Tùng lớn giọng, thừa tự tin về phẩm chất thi sĩ của mình nhưng lại thiếu lao động thơ, phần nhiều những bài viết chỉ như những phác thảo, những bán thành phẩm. Đọc Thanh Tùng, tôi nhớ đến ý kiến của một nhà phê bình Nga “Vấn đề không phải là những lời nảy lửa mà là chiều sâu của sự suy tưởng”. Lời Thanh Tùng chưa đến mức nảy lửa nhưng chiều sâu của sự suy tưởng thì quả thật chưa có.

Và phát hiện...- Nói đến yêu cầu phát hiện của giải thưởng năm nay, tôi nghĩ đến Quỷ trong trăng của Trần Thùy Mai (giải B). 10 truyện ngắn của chị lấy mất của tôi cả ngày đầu tiên của năm mới. Cuốn hút trước tiên vì chị viết toàn truyện tình! Lợi thế là ở đấy và thử thách cũng là ở đấy, non tay một chút thì thành “ngàn lẻ một chuyện tình”, thành truyện “tuổi xanh” ngay . Trần Thùy Mai đã viết được những truyện tình của ngày hôm nay, sâu sắc, từng trải, kỹ lưỡng nhưng vẫn giữ được phần tươi tắn, những cảm xúc tinh tế, trẻ trung trong tình yêu. Lật bìa bốn, biết tác giả đương tiệm cận “đầu năm”, ngạc nhiên tự hỏi làm sao mà chị vẫn lãng mạn, vẫn say đắm đến thế? “Trong tình yêu hạnh phúc thật ngọt ngào, mà khổ đau cũng đầy thi vị. Chỉ có sự trống rỗng chán chường của kẻ không yêu mới thật sự là khủng khiếp” (trang 18). Đọc Thương nhớ hoàng lan, thấy Trần Thùy Mai có vẻ rất thông thạo giáo lý và nghi lễ của nhà Phật (Huế mà), nhưng có lẽ cái đạo thực sự của chị là... đạo Yêu.

Lẽ ra tôi còn phải nói đến những tác phẩm thuộc các thể loại khác nữa. Nhưng thiết nghĩ, với một giải thưởng thường niên, được thế cũng đã là nhiều.