Lúc anh Tư lâm bệnh, nhiều lần tôi đến thăm anh. Có lần anh cho biết, bệnh có hy vọng chữa trị vì không di căn. Rồi đọc trên các báo thấy còn có bài viết của anh, tôi rất mừng. Nhưng buổi đến thăm chiều l l-4 vừa rồi ở phòng săn sóc đặc biệt của Bệnh viện Chợ Rẫy, tôi nắm tay anh, nói sát tai anh: “Hai Tân đến thăm anh đây!”. Anh chỉ ráng mở mắt và nắm chặt tay tôi hơn, chứng tỏ anh còn biết. Chiều 16-4, tính lên bệnh viện thăm, nhưng có điện thoại báo anh đã mất. Anh Tư ơi! Thế là anh mãi mãi xa chúng tôi rồi!
Gặp anh lần đầu tiên vào tháng 9-1961, ở căn cứ Mã Đà, nơi có cuộc họp của Trung ương Cục miền Nam lần thứ nhất. Xong cuộc họp của Trung ương cục, có quyết định thành lập Ban Tuyên huấn do anh Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban, anh Tư phó ban và tôi là ủy viên ban. Ngay từ lần gặp đầu tiên đó, tôi đã có sự cảm mến đặc biệt. Anh là một con người thông minh, kể chuyện rất vui, một chuyện thường nhưng qua lời kể của anh, nghe là tức cười. Anh hiểu nhiều về lịch sử, con người, những nhân vật của Nam Bộ, của Sài Gòn. Anh có nhiều kinh nghiệm về công tác tuyên huấn. Ở rừng Mã Đà lúc đó, anh đã quy tụ được nhiều anh chị em từ Sài Gòn lên, Việt kiều từ Phnom Penh xuống để sẵn sàng nhận công việc của ban giao. Và nghe ra, ai cũng mến phục anh Tư. Lần đầu tiên vào Nam Bộ, còn “lạ nước lạ cái” mà được cộng tác với một người như anh, tôi rất mừng. Thú vị nhất là tôi và anh Tư có cùng một sở thích, thích học, thích đọc, thích trao đổi ý kiến và đúng là anh Tư thường có nhiều suy nghĩ, có nhiều ý kiến.
Lúc Mỹ bị thất bại trong chiến tranh đặc biệt chuyển qua thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, anh Sáu Di (Nguyễn Chí Thanh) giao cho Ban Tuyên huấn đề xuất kế hoạch làm công tác tư tưởng. Kế hoạch ban đề ra đã được anh Sáu Di khen, trong đó có ý kiến của anh, là phải cổ vũ cho được khí phách anh hùng, làm cho dân mình luôn thấy ở thế mạnh, thế thắng, thế đứng trên đầu thù. Rồi chia nhau viết, sáng tác. Anh viết bài Ra khỏi ngõ gặp anh hùng. Anh Lưu Hữu Phước sáng tác bản nhạc cổ động cho chiến dịch Đông Xuân. Tôi viết bài Giặc Mỹ vào càng đông, diệt giặc Mỹ càng nhiều, giành thắng lợi càng lớn. Các bài đó được phát nhiều lần trên đài phát thanh.
Để chuẩn bị cho cuộc tổng tập kích Tết Mậu Thân 1968, khi điều tôi vào công tác ở nội thành Sài Gòn, anh Phạm Hùng chỉ viết cho tôi mấy dòng trên mảnh giấy nhỏ: “Hai Tân, Sài Gòn đang cần cậu. Về gặp Tư Ánh sẽ nói rõ”. Lúc tiễn tôi vào công tác ở nội thành Sài Gòn, bắt tay nhau, anh chỉ dặn một câu: “Nhớ nghe, cỡ tụi mình, hễ lâm trận là chết bỏ!’’. Và cuối năm 1969, tôi thật sự lâm trận. Đang bị giặc tra tấn ở nhà giam của Tổng Nha Cảnh sát Sài Gòn, nhớ lời anh dặn, tôi có mấy câu tâm niệm:
“Mình đang lâm trận ông Tư ơi!
Chết bỏ! Lời ông nhớ lại rồi
Ông cứ vững lòng tin ở bạn
Thiệt vàng thử lửa sáng ngời thôi!”.
Đến lúc ở Côn Đảo trở về, anh đến thăm tôi, khi kể cho anh nghe việc làm thơ của tôi trong lúc ở tù, anh bảo nhớ, chép lại rồi anh cho xuất bản với đề tựa Bài ca lâm trận do anh đặt ra.
Đặc biệt, được hiểu anh Tư nhiều là qua buổi tâm sự gần thâu đêm trên sân thượng của Trường Nguyễn Ái Quốc năm 1977. Qua anh kể, mới biết anh là em út trong gia đình có 7 anh chị em, là cháu nội của cụ Nghè Mô, một nhà chí sĩ yêu nước. Cha có xu hướng chống Pháp, bị quản thúc theo kiểu rất đặc biệt, là cho cụ định cư ở mỗi tỉnh không được quá 5 năm, do đó mà gia đình anh phải trôi dạt khắp Nam Bộ. Cụ thân sinh anh Tư giỏi chữ Nho nhưng chỉ sống bằng nghề bốc thuốc. Bà mẹ anh Tư phải làm lụng vất vả đủ nghề: nấu rượu, chịu bao nỗi gian nan với lũ Tây đoan, rồi ép gạch, làm nhang ở chùa... Anh Tư từ lúc nhỏ đã có nhiều bữa ăn chưa no. Học ở trường chưa qua bậc tiểu học và đi học phải mang tên khai sinh của người khác. Anh cũng kể, anh từng làm công nhân cạo mủ cao su. Anh vào Đảng năm mới 17 tuổi, tháng 8-1945 tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn. Biết tôi đã quá 3 lần bị địch bắt, bị tù, anh kể cho tôi nghe trên đường đi ra Việt Bắc để dự Đại hội Đảng toàn quốc lần II, anh cũng đã bị Pháp bắt ở vùng Nam Tuy Hòa, bị địch tra tấn giam cầm ở đồn Vạn Giã, rồi về bót Catinat, qua nhiều khám, cuối cùng là khám Vĩnh Lợi. Ở đây anh đã tổ chức cuộc vượt ngục. Trước khi vượt ngục, anh đã thảo một bản tuyên bố ký tên anh, với danh xưng chủ tịch Ủy ban Giải thoát tù binh khám Vĩnh Lợi, trong đó có cám ơn binh sĩ người Việt và hẹn gặp lại bọn Tây ở chiến trường. Thật đặc biệt!
Ôi, còn biết bao kỷ niệm về anh Tư trong tôi. Nay anh không còn nữa. Tôi vô cùng thương tiếc.
Anh Tư là một chiến sĩ cộng sản trung thành, tận tụy bám trụ chiến trường giữ vững ngòi bút chiến đấu, đến cả lúc bị lâm bệnh hiểm nghèo. Anh Tư là gương sáng về ý chí cầu tiến, ham học, ham đọc, ham nghiên cứu, suy nghĩ. Anh có vốn sống rất phong phú. Tuy không được học nhiều trên ghế nhà trường, không có học hàm, học vị gì, nhưng đối với những ai nghe anh nói, đọc được của anh đều coi anh là nhà hoạt động chính trị, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà viết kịch, nhà thơ, nhà báo với bút pháp, phong cách riêng, có sức hấp dẫn đặc biệt. Và có lĩnh vực, anh Tư được thừa nhận là uyên bác.
Anh mất, nhưng những gì anh đã đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của nhân dân, của Đảng, những gì là nét đẹp của cuộc đời anh, những tác phẩm anh để lại sẽ còn sống mãi. Tôi nghĩ, sống mà để đời được như vậy là quá vui rồi, phải không anh Tư?
|
Gần 500 tổ chức, cá nhân đến viếng đồng chí Trần Bạch Đằng
Từ chiều 16-4 đến 21 giờ ngày 17-4, đã có gần 500 tổ chức và cá nhân đến viếng đồng chí Trần Bạch Đằng (Tư Ánh) - nhà cách mạng lão thành, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà chính trị thông thái của VN vừa qua đời. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Trương Tấn Sang, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân..., đại diện nhiều cơ quan, ban ngành Trung ương, địa phương các tỉnh, thành; các cơ quan ngoại giao, kiều bào, cùng bạn bè, đồng nghiệp... đã đến viếng, gửi vòng hoa chia buồn cùng gia đình đồng chí Trần Bạch Đằng. Những lời chia buồn trong sổ tang có đoạn viết: “Người nhiều chữ gọi ông là nhà cách mạng, nhà lý luận... Người dân nói ông là “hoa tiêu” vì sau bài báo nào của ông cũng có một số chủ trương mới ra đời. Người viết lời từ biệt này nghĩ rằng ông còn là “nhà binh”, là tướng không quân hàm và là nhà cải cách không ngôi - bác sĩ Nguyễn Quốc Khanh”. Tin-ảnh: H.Thúy |

Bình luận (0)