Ban hành tùy hứng
Các chuyên gia của viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) tiến hành rà soát hệ thống văn bản liên quan đến 7 bộ luật gồm đầu tư, đất đai, xây dựng, bất động sản, môi trường, nhà ở và doanh nghiệp. Những gì họ thấy là một “rừng luật”.
Bảy lĩnh vực này đang có 134 văn bản hướng dẫn với độ dày 3.471 trang, tức là trung bình 1 trang văn bản luật phải có hơn 8 trang hướng dẫn thi hành. Cụ thể, 1 trang luật đất đai có 19,5 trang hướng dẫn thi hành. Tương tự, luật xây dựng có 12,5 trang, đầu tư 8 trang và môi trường 8 trang…
Về cơ cấu, số trang văn bản luật chiếm 11%, nghị định chính phủ 26,7%, thông tư và quyết định của bộ trưởng 55,2%, số còn lại là của thủ tướng.
Những con số thống kê trên, theo ông Nguyễn Đình Cung, trưởng ban kinh tế vĩ mô thuộc CIEM, là “quá nhiều và quá đồ sộ”.
Tuy nhiên, bức tranh của CIEM mới chỉ là một phần nhỏ so với thực trạng hệ thống luật ở Việt Nam do phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam thống kê (VCCI).
Hiện nay, theo VCCI, khoảng 200 luật, và 100 pháp lệnh đang được hướng hẫn thực hiện bởi 10.000 văn bản liên quan.
|
“Chúng ta phải rất cảnh giác với những sản phẩm của các quan chức đút hai chân ở dưới gầm bàn làm luật”
Trần Hữu Huỳnh, trưởng ban pháp chế VCCI |
Ông Trần Hữu Huỳnh, trưởng ban pháp chế VCCI nói rằng có rất nhiều nghi ngại về tính minh bạch, công khai, và nội dung của các văn bản hướng dẫn này so với các luật gốc. “Chúng ta phải rất cảnh giác với những sản phẩm của các quan chức đút hai chân ở dưới gầm bàn làm luật”, ông Huỳnh nói.
Ông Cung nói rằng, chất lượng của các văn bản hướng dẫn thi hành luật, nhất là bảy bộ luật trên là “rất thấp”. Theo CIEM, thực trạng kém chất lượng của hệ thống hướng dẫn thi hành luật được thể hiện bởi chín “không”, bao gồm không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích, không minh bạch, không tiên liệu trước được, không hợp lý, không hiệu quả và không hiệu lực.
Ai hưởng lợi
Liên quan đến luật Đầu tư, tiến sĩ Huỳnh cho rằng, việc trung ương tiến hành phân cấp trong cấp phép đầu tư đã đặt ra nhiều vấn đề trong xung đột lợi ích chung. Điều này thể hiện rõ khi quy hoạch phát triển kinh tế của trung ương không giống như của địa phương. “Điển hình của tình trạng này là Việt Nam có nhiều cảng mà không có cảng lớn, có nhiều sân bay mà không có sân bay to”, ông Huỳnh nói.
Về phần mình, ông Cung cho rằng, việc các uỷ ban nhân dân tỉnh, các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất ban hành các văn bản riêng liên quan đến luật này đã làm nảy sinh “không ít vấn đề có hệ quả lâu dài”. Đầu tiên, có thể nhiều văn bản ban hành ở các cấp này làm giảm hiệu lực, thậm chí là vô hiệu hoá pháp luật trung ương.
Ngoài ra, theo ông Cung, các văn bản do các bộ ngành ban hành liên quan đến ngành đó thường có nội dung bị biến dạng. “Trên thực tế, thông tư và quyết định của một ông bộ trưởng có hiệu lực thực tế hơn cả luật và nghị định, làm đảo lộn trật tự và giá trị của hệ thống pháp luật”, ông nói.
Hơn nữa, những văn bản như vậy thường không thân thiện với đối tượng của luật, tạo môi trường cho cán bộ công chức nhũng nhiễu và có thể thực thi luật pháp theo cách có lợi cho họ, hay lợi ích nhóm hơn là phục vụ nhu cầu chung của xã hội như mục tiêu ban đầu của luật.
Ông Cung kiến nghị rằng, bộ Tư pháp và văn phòng chính phủ cần nâng cao công tác thẩm định luật, trong khi quốc hội nên tập trung vào chất lượng của các dự án luật, chứ không chỉ chú ý làm được bao nhiêu luật.
Bình luận (0)