. Phóng viên: Thưa ông, sự thăng hoa trên trường quốc tế năm 2006 đã mang lại một hình ảnh mới-vị thế mới của VN. Vận hội mới đó tác động như thế nào tới sự phát triển của đất nước?
- Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan: Nhiều người gọi đó là “thời cơ vàng” hay “cơ hội
vàng” nhưng tôi chỉ muốn nói rằng cơ hội là có thật, là nhãn tiền. Thành tựu hội nhập năm 2006 là đỉnh cao, điểm hội tụ của nỗ lực suốt 20 năm qua, thể hiện trên các sự kiện trọng đại như gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tổ chức thành công Hội nghị APEC 14, được các nước châu Á nhất trí đề cử là ứng cử viên duy nhất của châu lục vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc... Thành tựu đó còn hiện ra trên các con số kỷ lục: xuất khẩu đạt gần 40 tỉ USD so với 800 triệu USD thời mới bắt đầu đổi mới (gấp 50 lần), đầu tư nước ngoài hơn 10 tỉ USD so với 300 triệu USD... Tất cả điều đó tạo nên cơ hội lớn.
. Chúng ta sẽ làm gì để nắm bắt vận hội lớn vừa mở ra?
- Thực ra đây là điểm kết thúc một giai đoạn và bắt đầu mở ra một giai đoạn khác. Trước đó chỉ là câu chuyện bếp núc chuẩn bị, bây giờ mới đến lúc ăn. Có ăn được hay không là vấn đề của bây giờ. Cơ hội đang hiển hiện trước mắt, nhưng bao giờ cũng vậy, nó là sự gặp mặt của tất cả các nhân tố thuận lợi cùng một lúc. Cơ hội đó không tĩnh mà luôn vận động, nó sẽ qua đi rất nhanh nếu chúng ta không biết nắm lấy. Vấn đề bây giờ là gác chuyện phấn khởi sang một bên và phải bắt tay vào hành động.
. Đâu là những việc cần làm ngay để nắm bắt cơ hội?
- Có 3 khâu quan trọng. Thứ nhất, cần phải tiếp tục sửa đổi các cơ chế chính sách cho phù hợp với các cam kết. Thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết để thế giới thấy mình “nói đi đôi với làm”, từ đó tạo cơ hội thuận lợi cho họ vào làm ăn. Thứ hai, cải thiện nhanh hơn cơ sở hạ tầng. Đầu tư bùng phát, cơ hội đến, nhiều người vào làm ăn mà cảng, đường sá, sân bay không tốt, điện bập bùng thế này... thì làm sao tận dụng được cơ hội. Thứ ba, nhân tố rất lớn là nguồn nhân lực. Sau tăng lương, tăng giá thì lợi thế này không còn nhiều so với chung quanh. Lao động qua đào tạo của chúng ta hiện quá thấp, mới chỉ 20% và đến cuối kế hoạch 5 năm này mới được khoảng trên 50%. Đây là lỗ hổng rất lớn mà nếu không có chương trình cụ thể, kế hoạch cụ thể thì rất khó.
. Thưa ông, với những tác động thuận lợi cùng nhu cầu phát triển nhanh của một đất nước có xuất phát điểm thấp, có nên tính tới việc hoạch định một chiến lược tăng trưởng kinh tế mới, nhanh hơn nhằm sớm thu hẹp khoảng cách phát triển của nước ta với khu vực và thế giới?
- Chúng ta đã đạt tốc độ tăng trưởng cao thời gian gần đây và đang kỳ vọng với những nhân tố mới và cơ hội mới, tốc độ tăng trưởng sẽ cao hơn. Quốc hội đã đặt ra mục tiêu năm 2007 phấn đấu tăng 8,5% GDP. Theo tôi, đây là mục tiêu hiện thực. Muốn đạt trên 10% thì còn phụ thuộc nhiều yếu tố, không thể muốn là có ngay. Tăng trưởng cần có vốn mà chúng ta hiện đã huy động đầu tư tới 40% GDP. Đó là mức rất cao, khó có thể hơn nữa. Mong muốn là một chuyện, khả năng là chuyện khác. Tăng trưởng đạt 8,5% mỗi năm là đáng mừng rồi.
. Theo ông, những yếu tố tác động nào là đáng ngại nhất đối với tăng trưởng kinh tế của VN?
- Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay thì hôm nay khó nói trước về ngày mai. Trước cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á hồi năm 1997, chỉ có một người đoán được nhưng không ai tin. Một trong những nhân tố giúp kinh tế VN tăng trưởng tốt trong năm 2006 là nền kinh tế thế giới tăng trưởng hơn 5%, gấp đôi đầu những năm 2000. Nhưng nay thì kinh tế Mỹ bắt đầu chậm lại vì thế người ta dự báo kinh tế thế giới 2007 chỉ tăng khoảng 4,4%-4,7%. Về khách quan, kinh tế VN hiện phụ thuộc khá lớn vào kinh tế thế giới mà kinh tế thế giới thì không ai có thể điều khiển được. Về chủ quan, tôi cho rằng cần làm tốt 3 khâu quan trọng đã nói trên đây.
. Như ông nói, chúng ta đã rút ra được kinh nghiệm để tận dụng cơ hội trong đàm phán WTO?
- Phải có bài học thực tế, có trả giá. Khi mới thực hiện AFTA cũng có không ít nghi ngại rằng hạ thuế từ vài chục % xuống 0-5% thì hàng hóa ASEAN tràn vào bóp chết hàng chúng ta đến nơi rồi. Sức ép khi đó ghê gớm lắm. Nhưng thực tế không phải như vậy. Nói miệng ít người tin lắm, phải có thực tế mách bảo. Hay như Hiệp định Thương mại song phương Việt-Mỹ, khi chúng tôi đi đàm phán và ký về cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Phải đợi đến thực tế mới rõ ra rằng là có lợi. Đó chính là hai bài học rất lớn của 10 năm qua. Phải có thực tế chứng minh vì con đường đó chúng ta chưa đi qua mà chỉ có dấu chân của người khác thôi. Thành ra trước khi đi vào ai mà chẳng sợ có chông gai nhưng mạnh dạn đi vào rồi mới thấy chông gai cũng có thể tránh được.
. Nhìn khái quát về quá trình hội nhập, ông suy nghĩ gì?
- Phải tạo nên thời cơ vì chính thời cơ đó giúp chúng ta thành công. Trong chiến tranh, hòa bình đều như vậy. Khi thời cơ đến thì lực dù chưa đủ nhưng vẫn có thể thành công. Đó là bài học. Bài học nữa là tạo nên sức mạnh tổng hợp. Hơn nữa, WTO là tổng hợp tất cả các ngành, các giới, các tầng lớp dân cư. Không có sự đồng thuận của tất cả các ngành, các giới thì vào trận không bao giờ thắng cả. Khi đàm phán Hiệp định Paris, chúng ta huy động sức mạnh tổng hợp trên cả 3 mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao. Nay gia nhập WTO cũng vậy, phải có sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của cả xã hội.
. Xin cảm ơn ông.
Bình luận (0)